CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI HỐI LỘ 1. Khái niệm và đặc điểm của hành vi hối lộ 1. Khái niệm hành vi hối lộ Hối lộ là thuật ngữ khá quen thuộc trong đời sống xã hội, nó hàm chứa sự tiêu cực trong quan hệ xã hội giữa người với người. Trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam, thuật ngữ “ăn hối lộ” đã xuất hiện trong các văn bản pháp luật thành văn, có thể kể đến một trong những văn bản pháp lý điển hình thời kỳ phong kiến đó là Bộ luật Hồng Đức, tại điều 52, Chương “vi chế” ghi rõ: “làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan xử tội “đồ”- “lưu”; từ 20 quan trở lên là xử lưu; từ 50 quan trở lên xử “tử”…”3.
Điều này chứng tỏ hành vi hối lộ không chỉ phê phán về khía cạnh đạo đức, chính trị mà cần phải trừng trị bằng pháp luật. Bản chất của hành vi hối lộ được hiểu theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, hối lộ là “Lén lút đưa tiền của để nhờ kẻ có quyền làm điều trái với pháp luật nhưng có lợi cho mình”4. Từ góc độ xã hội, hối lộ được xem là hiện tượng tiêu cực, trái với các chuẩn mực xã hội và có thể xem là một hình thức lệch lạc, biến tướng trong quan điểm đền ơn, tặng quà…vốn là truyền thống tốt đẹp trong xã hội phương đông giữa những con người có quan hệ ơn nghĩa, tình cảm với nhau.
Tuy nhiên, khi các lợi ích cá nhân vượt qua các giá trị về tình cảm dẫn đến hiện tượng một bên là những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để thu vén lợi ích không chính đáng cho bản thân; còn một bên muốn đạt được mục đích của mình dù rằng mục đích đó của mình có trái luật hay đúng luật nhưng họ đã dùng những lợi ích tác động vào ý chí và hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn để diễn ra theo ý của họ. Chính vì vậy, trên thực tiễn hành vi hối lộ rất khó bị phát hiện bởi tính chất “đôi bên cùng có lợi” đã hình thành nên sự che chắn, bảo vệ cho nhau. Duới góc độ chính trị, “Hối lộ là một trong những dạng bổng lộc của quyền lực và là một hình thức trao đổi chung 3 VOV (2018), “Phòng, chống tham nhũng: Những bài học lịch sử và hành động của chúng ta hôm nay”, nguồn: http://tapchimattran.vn/thoi-su/phong-chong-tham-nhung-nhung-bai-hoc-lich-su-va-hanh-dong-cua- chung-ta-hom-nay-12854. 4 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (2010), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb.
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tái bản lần thứ 9 (sửa chữa và bổ sung), tr. 9 giữa quyền lực và sự giàu có”5. Theo quan điểm này, hối lộ mang bản chất chính trị sâu sắc và là một trong những nguyên nhân khiến cho người dân mất niềm tin đối với chế độ chính trị trên đất nước của họ. Chính vì vậy, hành vi hối lộ luôn bị xem là hành vi tiêu cực và cần phải bị lọai trừ khỏi đời sống chính trị dù ở bất kỳ chế độ chính trị nào.
Trong khi đó, từ góc độ hành chính – nhà nước, các học giả và các quốc gia đều thống nhất chung “hối lộ” là một dạng của hành vi tham nhũng. Trước đây, Hiện tượng này được cho rằng chỉ xảy ra nhiều ở những nơi thiếu minh bạch và thiếu sự tôn trọng các quy tắc đạo đức, đồng thời tác động trở lại làm cho bộ máy nhà nước trì trệ, thối nát. Hối lộ gây ra nhiều tác hại to lớn trong hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là hủy hoại đạo đức và trách nhiệm của những người thực thi chức trách, làm mất lòng tin của nhân dân vào hoạt động công vụ6. Theo cách tiếp cận này, hối lộ là hành vi chỉ diễn ra trong khu vực nhà nước (khu vực công) và được thực hiện bởi nhân viên nhà nước, không đề cập đến hành vi hối lộ diễn ra ở khu vực ngoài nhà nước (khu vực tư).
Hiện nay, các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực tư dần thể hiện vai trò thiết thực trong xã hội, nhiều hoạt động trước đây chỉ thuộc độc quyền do nhà nước thực hiện, nay cho phép chuyển một số dịch vụ công sang khu vực tư nhân (ví dụ: dịch vụ hàng không dân dụng, xây dựng hạ tầng giao thông, công chứng, giáo dục, cung ứng dịch vụ mua bán tài sản công…). Vì vậy, để tránh sự cạnh tranh không lành mạnh, tạo sự công bằng, minh bạch trong nền kinh tế thì các chuyên gia pháp lý, nhà lập pháp các nước đã tiếp cận hành vi hối lộ không chỉ trong khu vực nhà nước mà còn cả trong khu vực ngoài nhà nước. Liên hệ với Việt Nam về vấn đề này, chúng tôi thấy rằng Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định các hành vi hối lộ bao gồm: nhận hối lộ; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp vì vụ lợi mà chủ thể thực hiện hành vi là những người có chức vụ, quyền hạn cả trong khu vực công và khu vực tư, điều này phù hợp với quan điểm chỉ đạo tại Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. 5 Trịnh Tiến Việt (2011), “Nghiên cứu so sánh các quy định về tội đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ trong Luật hình sự Việt Nam và Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng”, Tòa án nhân dân, Số 17, tr.1-6 6 Đào Lệ Thu (2011), Các tội phạm về hối lộ theo Luật hình sự Việt Nam trong sự so sánh với Luật hình sự Thụy Điển và Australia, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
10 Từ các khía cạnh tiếp cận kể trên, chúng tôi nhận thấy một điểm chung đó là hối lộ luôn thể hiện bản chất tiêu cực, là sự trao đổi lợi ích bất hợp pháp giữa một bên có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu vén lợi ích cá nhân bằng cách làm theo yêu cầu của bên đưa hối lộ, còn bên đưa hối lộ sử dụng lợi ích không chính đáng để đổi lấy việc người nhận hối lộ làm theo yêu cầu của mình. Tính tiêu cực của hành vi hối lộ là sự luận giải cho việc cần thiết phải quy định thành tội phạm và có chế tài hình sự mang tính nghiêm khắc nhằm phòng ngừa có hiệu quả đối với loại tội phạm này. Quan điểm chung của pháp luật quốc tế đều coi tất cả các dạng hành vi hối lộ đều là tham nhũng cần được hình sự hóa và quan điểm này được thể hiện ở việc Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng quy định cả nhận hối lộ và đưa hối lộ đều là hành vi tham nhũng. Cụ thể, Công ước xây dựng những định nghĩa mô tả từng tội phạm cụ thể thay vì đưa ra định nghĩa chung về hối lộ.
Ví dụ: Điều 15 của Công ước đưa ra định nghĩa hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ của công chức quốc gia như sau: hành vi đưa hối lộ là hành vi “Hứa hẹn, chào mời hay cho trực tiếp hay gián tiếp công chức bất kỳ một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức ấy hay cho một người hoặc một tổ chức khác, để công chức làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ”; hành vi nhận hối lộ là hành vi “Trực tiếp hay gián tiếp đòi hoặc nhận một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức hay người hoặc tổ chức khác, để công chức làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ”. Điều đáng chú ý, khái niệm trên được nêu tương đồng với khái niệm về các tội phạm hối lộ trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Như vậy, nhận thức của cộng đồng quốc tế về các dạng của tội phạm hối lộ là khá thống nhất; việc các công ước nêu song hành giữa hành vi đưa hối lộ với hành vi nhận hối lộ vừa khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa 2 loại hành vi này vừa cho thấy dấu hiệu pháp lý có tính chất tác động qua lại giữa chúng. Theo quy định của luật hình sự Việt Nam, các tội phạm về hối lộ gồm 03 tội phạm cụ thể, đó là: tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ, tội môi giới hối lộ.
Căn cứ quy định tại Điều 354, 364 và 365 BLHS năm 2015, chúng tôi xây dựng ra khái niệm chung về tội phạm hối lộ như sau: Tội phạm hối lộ là những hành vi trực tiếp hoặc qua trung gian (i) nhận hoặc sẽ nhận một lợi ích (vật chất hoặc phi vật chất) cho bản thân của người có chức vụ, 11 quyền hạn hoặc cho bên thứ ba (cá nhân, tổ chức); (ii) đã đưa hoặc sẽ đưa một lợi ích (vật chất hoặc phi vật chất) của bất kì người nào cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc cho bên thứ ba (cá nhân, tổ chức); (iii) làm trung gian cho hành vi đưa và nhận hối lộ, nhằm gây ảnh hưởng đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người có chức vụ một cách cố ý vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Đặc điểm của các tội phạm hối lộ Hối lộ sẽ có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào góc độ và mục đích nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi đưa ra những đặc điểm cơ bản của tội phạm hối lộ dưới góc độ luật hình sự Việt Nam nhằm làm cơ sở cho sự so sánh với các quy định của Công ước về loại tội phạm này. Thứ nhất, trong quan hệ hối lộ luôn tồn tại song song hai chủ thể có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là người nhận hối lộ và người đưa hối lộ.
Một bên chủ thể có nhu cầu giải quyết công việc (có thể hợp pháp hoặc không hợp pháp); một bên chủ thể khác có quyền lực trong việc giải quyết nhu cầu công việc cho bên kia.