Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự tại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2022 cho thấy việc áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đóng vai trò quyết định trong việc triệt tiêu nguồn lực vật chất của tội phạm. Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê tư pháp, tỷ lệ các bản án bị hủy, sửa hoặc kháng nghị có liên quan đến việc xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp chiếm khoảng 12% đến 18% tổng số các sai sót nghiệp vụ. Nguyên nhân trọng tâm bắt nguồn từ sự bất cập, thiếu hụt các định nghĩa pháp lý rõ ràng trong quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự của tác giả Phí Thị Phương Nhung tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tập trung giải quyết toàn diện khoảng trống lý luận và thực tiễn của biện pháp tư pháp này. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc phân tích sâu sắc cấu trúc pháp lý, nhận diện 4 nhóm sai lầm phổ biến tại các Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh trên phạm vi 63 tỉnh thành trong cả nước từ năm 2015 đến năm 2022.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc đưa ra giải pháp chuẩn hóa 100% căn cứ pháp lý áp dụng biện pháp tư pháp, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thu hồi tối đa 100% tài sản bất minh do phạm tội mà có vào ngân sách nhà nước, đồng thời kéo giảm tỷ lệ sai sót, nhầm lẫn trong phân định tài sản xuống mức dưới 1%, bảo vệ quyền tài sản hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng 2 hệ thống lý thuyết pháp lý cốt lõi: Lý thuyết về trách nhiệm hình sự cùng các biện pháp cưỡng chế tư pháp hình sự độc lập, và Lý thuyết về xác lập, bảo vệ quyền sở hữu tài sản trong giao thoa giữa pháp luật hình sự với pháp luật dân sự. Khung nghiên cứu tập trung mổ xẻ 4 khái niệm pháp lý hạt nhân:

  • Biện pháp tư pháp: Biện pháp cưỡng chế nhà nước quy định trong Bộ luật Hình sự, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt, không làm phát sinh án tích.
  • Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: Đối tượng vật chất được người phạm tội sử dụng trực tiếp để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
  • Vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có: Tài sản hình thành trực tiếp từ hành vi phạm tội hoặc kết quả phái sinh cấp 1 từ việc chuyển nhượng tài sản phạm tội.
  • Khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội: Lợi ích vật chất gia tăng gián tiếp hình thành từ việc sử dụng, đầu tư nguồn tiền hoặc tài sản có nguồn gốc phạm tội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực chứng đa dạng, bao gồm 21 bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm tiêu biểu công bố trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, 2 dự thảo án lệ của Tòa án nhân dân tối cao và hơn 30 bản án chuyên đề về tai nạn giao thông đường bộ giai đoạn 2015 – 2022.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 51 bản án được thu thập theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling). Phương pháp này tập trung vào các nhóm tội phạm có tính chất phức tạp cao về xử lý vật chất như: Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự, Tội cướp tài sản, Tội trộm cắp tài sản và các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích án điển hình kết hợp phương pháp so sánh luật học lịch sử (đối chiếu quy định trước và sau thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2018 khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực) là nhằm bóc tách chính xác những xung đột giữa nhận thức lý luận và thực tiễn áp dụng, từ đó bảo đảm tính khách quan, khoa học trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn xét xử chỉ ra 4 phát hiện quan trọng có số liệu minh chứng:

Thứ nhất, 100% trong số hơn 30 bản án về tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông đường bộ được khảo sát đều tuyên trả lại phương tiện (xe mô tô, xe ô tô) cho người phạm tội với lập luận hành vi thực hiện do lỗi vô ý. Trong khi đó, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự không phân biệt hình thức lỗi cố ý hay vô ý, tạo nên khoảng trống lớn giữa quy định thực định và áp dụng thực tế.

Thứ hai, tình trạng nhầm lẫn giữa tiền do phạm tội mà có và khoản thu lợi bất chính xảy ra tại hơn 85% các bản án ma túy và tín dụng đen. Ví dụ, trong các vụ án thu lợi 30.000.000 đồng từ bán ma túy hay vụ án cho vay nặng lãi thu 292.841.000 đồng, Hội đồng xét xử thường tuyên tịch thu là thu lợi bất chính nhưng không viện dẫn cụ thể điểm, khoản hoặc viện dẫn sai bản chất tiền do phạm tội trực tiếp sinh ra.

Thứ ba, sai sót nghiêm trọng trong việc bỏ qua tịch thu tài sản do chuyển nhượng tài sản phạm tội. Điển hình là các vụ án trộm cắp tài sản đem bán lấy 1.200.000 đồng hoặc cầm cố xe máy lấy 2.000.000 đồng; do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử đã không tuyên tịch thu số tiền bán xe sung công quỹ vì áp dụng sai tinh thần hướng dẫn của Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01 tháng 10 năm 2019.

Thứ tư, bất cập trong xử lý tài sản chung hợp nhất của vợ chồng và tài sản đang thế chấp ngân hàng. Tỷ lệ phân chia 50% giá trị phương tiện theo Dự thảo Án lệ số 01/2019 và cơ chế ưu tiên thanh toán nợ cho ngân hàng đối với xe ô tô thế chấp trị giá 289.000.000 đồng trong Dự thảo Án lệ số 03/2019 cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm thường xuyên bỏ sót quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các sai sót trên là do các nhà làm luật chưa đưa ra khái niệm định lượng và định tính cụ thể cho cụm từ "khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội" trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều này dẫn đến sự tùy nghi của Thẩm phán khi đưa ra phán quyết.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được mô hình hóa qua Bảng phân loại 3 tầng tài sản Điều 47 và Biểu đồ ma trận luân chuyển dòng tiền phạm tội. Qua đó làm rõ: Tiền trực tiếp phạm tội (như 5 tỷ đồng tham ô hoặc 4 tỷ đồng đánh bạc) phải bị tịch thu theo diện tiền do phạm tội mà có; còn khoản tiền sinh lời phái sinh (như 5 tỷ đồng lãi bất động sản từ tiền tham ô sau 4 năm hoặc 3 tỷ đồng chênh lệch giá đất) phải được định danh chính xác là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội để tịch thu triệt để 100% sung vào ngân sách nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Để khắc phục triệt để các hạn chế và bất cập, luận văn xây dựng 4 nhóm khuyến nghị hành động với chủ thể và lộ trình cụ thể:

Thứ nhất, Quốc hội cần tiến hành sửa đổi tên gọi của Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 thành "Tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm" bằng cách lược bỏ 2 từ "trực tiếp". Việc điều chỉnh này giúp tên điều luật bao quát được cả các dạng tài sản phái sinh, lợi nhuận gián tiếp và tài sản biến tướng. Mục tiêu hoàn thiện lập pháp trong giai đoạn 2024 – 2026.

Thứ hai, Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung quy định giải thích luật chính thức về khái niệm: "Khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội là những khoản thu lợi khác trong vụ án dưới dạng vật, tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có nguồn gốc từ vật, tiền do phạm tội mà có hoặc do mua bán, đổi chác vật, tiền do phạm tội mà có". Lộ trình ban hành dự kiến trong năm 2024 nhằm chuẩn hóa 100% căn cứ áp dụng.

Thứ ba, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết chuyên đề hướng dẫn thống nhất áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết cần xác định rõ: Tòa án bắt buộc phải tuyên tịch thu khoản tiền do bán, đổi chác tài sản phạm tội trong mọi trường hợp, không phụ thuộc vào ý chí hay yêu cầu bồi thường của bị hại; đồng thời xác lập quy trình bắt buộc phải xử lý ưu tiên nợ vay có bảo đảm của các tổ chức tín dụng hợp pháp trước khi tịch thu sung công quỹ.

Thứ tư, Tòa án nhân dân tối cao chủ trì tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho 100% Thẩm phán, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên toàn quốc; đẩy mạnh cập nhật các vụ án mẫu và tích hợp các quy tắc phân loại vật chứng vào phần mềm Trợ lý ảo Tòa án, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ sai sót xử lý vật chứng xuống mức 0%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp: Luận văn cung cấp bộ tiêu chí chuẩn mực giúp xác định chính xác điểm, khoản áp dụng tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, ngăn chặn nguy cơ bản án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy, sửa do sai sót trong xử lý vật chứng và các khoản tiền thu lợi.

Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra: Tài liệu hỗ trợ đắc lực cho việc định hướng truy vết dòng tiền, kê biên tài sản phạm tội và đề xuất các biện pháp tịch thu chính xác 100% ngay từ giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố.

Luật sư và Cố vấn pháp lý tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng: Cung cấp giải pháp bảo vệ quyền tài sản hợp pháp đối với các tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp (như vụ án thế chấp xe ô tô 7 chỗ trị giá hàng trăm triệu đồng) khi tài sản bị khách hàng lạm dụng làm phương tiện phạm tội.

Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học ngành Luật: Tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hệ thống hơn 50 vụ án thực chứng, mở rộng hướng nghiên cứu về cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế theo chuẩn mực pháp lý hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Phương tiện giao thông trong vụ án vô ý gây tai nạn giao thông có bị tịch thu sung quỹ nhà nước không? Theo câu chữ tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, luật không phân biệt lỗi cố ý hay vô ý khi tịch thu phương tiện. Tuy nhiên, qua khảo sát hơn 30 bản án thực tiễn, 100% Tòa án đều tuyên trả lại xe cho chủ sở hữu vì phương tiện không phải là công cụ chủ động dùng để phạm tội, điều này đòi hỏi Hội đồng Thẩm phán sớm ban hành hướng dẫn chính thức.

Bị hại không yêu cầu bồi thường thì tiền bị cáo bán tài sản trộm cắp có bị tịch thu không? Khoản tiền này bắt buộc phải bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Việc một số Tòa án bỏ qua không tịch thu số tiền 1.200.000 đồng bán mai vàng hay 440.000 đồng bán xe trộm cắp là áp dụng sai lệch nội dung hướng dẫn tại Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao.

Tài sản phạm tội là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì xử lý như thế nào? Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành định giá và chỉ tịch thu 50% giá trị tài sản thuộc phần quyền sở hữu của người phạm tội để nộp ngân sách nhà nước. 50% giá trị còn lại phải được hoàn trả cho người vợ hoặc người chồng, trừ trường hợp chứng minh được người này có lỗi cố ý giúp sức hoặc biết rõ tài sản được sử dụng để phạm tội.

Lợi nhuận phái sinh từ tiền phạm tội như dùng 5 tỷ đồng tham ô mua đất sinh lời thành 10 tỷ đồng được giải quyết ra sao? Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tịch thu 5 tỷ đồng gốc với tư cách là tiền do phạm tội mà có, đồng thời tịch thu toàn bộ 5 tỷ đồng chênh lệch địa ốc phát sinh với tư cách là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm triệt tiêu hoàn toàn động cơ vụ lợi.

Xe ô tô đang thế chấp hợp pháp tại ngân hàng nhưng bị dùng để chở hàng lậu thì Tòa án xử lý thế nào? Theo Dự thảo Án lệ số 03/2019, Tòa án sẽ giao phương tiện cho cơ quan thi hành án dân sự phối hợp cùng ngân hàng bán đấu giá công khai. Tiền thu được ưu tiên thanh toán dứt điểm khoản nợ vay hợp pháp của ngân hàng, phần giá trị thặng dư còn lại mới tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Công trình bóc tách và phân tích sắc bén 4 nhóm sai sót điển hình trong việc xác định đối tượng tịch thu thông qua hơn 50 bản án và dự thảo án lệ thực chứng giai đoạn 2015 – 2022.
  • Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học chuẩn xác về khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội, giải quyết dứt điểm sự nhầm lẫn kéo dài với tiền do phạm tội trực tiếp mà có.
  • Luận văn đề xuất sửa đổi tên Điều 47 Bộ luật Hình sự và kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất.
  • Công trình thiết lập cơ chế cân bằng tối ưu giữa việc thu hồi 100% tài sản phạm pháp cho ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân, tổ chức tín dụng.

Đóng góp của học viên Phí Thị Phương Nhung dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Hoa mang giá trị thực tiễn to lớn cho tiến trình cải cách tư pháp giai đoạn 2024 – 2026. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ tư pháp hãy nghiên cứu chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ để áp dụng hiệu quả vào công tác thực thi pháp luật và nghiên cứu chuyên môn.