CHƯƠNG 1 TỊCH THU CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN DÙNG VÀO VIỆC PHẠM TỘI 1. Lý luận và quy định của pháp luật hình sự về tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội 1. Lý luận về tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội Tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là biện pháp tư pháp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015. Bộ luật Hình sự không nêu định nghĩa pháp lý về biện pháp tư pháp.
Trong khoa học pháp lý hình sự, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, như sau: Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt5. Các biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng chế được quy định trong Luật hình sự do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự quyết định áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội hoặc người thực hiện hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội trong khi mất năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh ở các giai đoạn khác nhau của trách nhiệm hình sự nhằm lập lại công bằng xã hội và ngăn ngừa tội phạm6. Theo tác giả, có thể khái quát, biện pháp tư pháp là một trong các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước, được quy định trong Bộ luật hình sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm tội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không có năng lực trách nhiệm hình sự hay đối với pháp nhân thương mại phạm tội nhằm thay thế, hỗ trợ hình phạt, giáo dục, ngăn ngừa đối tượng tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội hoặc góp phần khắc phục thiệt hại, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại. Về ý nghĩa, cùng với hình phạt và án tích, biện pháp tư pháp là một hình thức của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội có thể phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tuy biện pháp tư pháp và hình phạt có nhiều điểm giống nhau nhưng xét về bản chất pháp lý, biện pháp tư pháp không phải là hình phạt mà là các biện pháp cưỡng chế được Bộ luật Hình sự quy định có thể áp dụng đối với người 5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 6 Lê Văn Cảm (2021) Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 8 có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Việc áp dụng các biện pháp tư pháp không gây án tích cho người bị áp dụng. Việc quy định các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự và việc áp dụng các biện pháp đó trong thực tiễn có khả năng tác động, hỗ trợ hình phạt trong việc giáo dục người phạm tội hoặc trong nhiều trường hợp còn có thể thay thế cho hình phạt, rút ngắn được thủ tục tố tụng, giải quyết nhanh chóng các vụ án. Việc quy định và áp dụng các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự đã thể hiện phương châm đúng đắn trong việc thực hiện chính sách hình sự là sử dụng tối đa, đồng bộ mọi biện pháp để tác động đến việc giáo dục người phạm tội, hình phạt không phải là phương tiện, công cụ duy nhất trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tất cả các biện pháp tư pháp hình sự cũng nhằm mục đích giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm, góp phần nâng cao hiệu quả của sự tác động hình sự đối với tội phạm7.
Biện pháp tư pháp có những đặc điểm sau: được quy định trong Bộ luật Hình sự; được áp dụng bởi cơ quan tư pháp tùy thuộc vào từng giai đoạn của quá trình tố tụng cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp là khác nhau; được áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó có thể cấu thành tội phạm hoặc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm; được áp dụng nhằm để hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt8. Theo Từ điển luật học, công cụ phạm tội là đối tượng vật chất được chủ thể sử dụng trợ giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội. Công cụ phạm tội là dạng cụ thể của phương tiện phạm tội được chủ thể sử dụng tác động đến đối tượng tác động của tội phạm như dao để đâm nạn nhân, búa để phá cửa nhà kho vào trộm cắp tài sản…9 và phương tiện phạm tội là đối tượng vật chất được chủ thể của tội phạm sử dụng trợ giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội; phương tiện phạm tội có nhiều dạng khác nhau: trong đó có dạng được gọi là công cụ phạm tội như dao để đâm nạn nhân, búa để phá cửa nhà kho vào trộm cắp…Bên cạnh dạng phương tiện phạm tội được gọi là công cụ phạm tội còn có dạng phương tiện phạm tội khác không được gọi là công cụ phạm tội như xe máy dùng để chuyên chở thuốc phiện, tiền để đưa hối lộ…10. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ nêu chung chung, chưa nêu rõ sự khác biệt giữa công cụ với phương tiện làm cơ sở để xác định, xử lý trong thực tiễn.
7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), tlđd (5), tr. 8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), tlđd (5), tr. 9 Bộ Tư Pháp - Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa - Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 10 Bộ Tư Pháp - Viện Khoa học pháp lý, tlđd (9), tr.
9 Theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung của Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thì “vật được sử dụng vào việc phạm tội gồm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Đây là những vật thuộc sở hữu của người phạm tội và đã được người đó sử dụng vào việc phạm tội sẽ bị tịch thu sung quỹ Nhà nước, đối với những vật không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy”11. Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung của Khoa Luật Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội thì “những đối tượng này với tính chất là vật chứng trong vụ án hình sự, thuộc sở hữu của người phạm tội và đã được họ sử dụng làm công cụ hoặc phương tiện để thực hiện tội phạm, đó là vũ khí, hung khí sử dụng để thực hiện các tội xâm hại tính mạng, sức khỏe con người; xe máy, ô tô, tàu thuyền là sở hữu của người phạm tội nhưng họ đã dùng vào việc thực hiện tội phạm như buôn lậu, buôn bán hàng cấm, vận chuyển ma túy, v.
hoặc tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dùng làm của hối lộ…Ở đây cũng cần lưu ý nếu vật chứng trong vụ án hình sự là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung công quỹ nhà nước; vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; còn vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy”12. Như vậy, cả 02 giáo trình trên đều không nêu khái niệm về công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội mà chỉ đưa ra định nghĩa để làm rõ nghĩa của từ nhà làm luật sử dụng. Trong sách Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015, Phần thứ nhất - Những quy định chung của tác giả Đinh Văn Quế có nêu: “Khi tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần xác định chính xác những công cụ, phương tiện này được dùng vào việc phạm tội thì mới tịch thu sung quỹ Nhà nước. Ví dụ: Võ Viết T chuyên dùng chiếc ghe máy vận chuyển thuốc lá ngoại đem tiêu thụ ở nhiều nơi, nên bị Tòa án tuyên bố tịch thu chiếc ghe máy để sung quỹ Nhà nước.
Nếu công cụ, phương tiện không xác định được dùng vào việc phạm tội thì không được tịch thu. Ví dụ: Vũ Thị C bị bắt quả tang vận chuyển 0,5kg thuốc phiện bằng một chiếc xe máy Dream II, nhưng chiếc xe này hàng ngày Vũ Thị C vẫn dùng làm phương tiện đi làm nên không thể cho rằng chiếc xe máy là công cụ, phương tiện dùng vào việc 11 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), tlđd (5), tr. 12 Lê Văn Cảm (2021), tlđd (6), tr. 10 phạm tội để tịch thu được”13.
Như vậy, tác giả Đinh Văn Quế cũng không đưa ra khái niệm về công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, tác giả không đồng ý với quan điểm của ông Đinh Văn Quế cho rằng chiếc xe máy hàng ngày Vũ Thị C vẫn dùng làm phương tiện đi làm nên không thể cho rằng chiếc xe máy là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội để tịch thu được. Vấn đề này, tác giả sẽ phân tích trong phần sau. Từ những phân tích trên cho thấy, khoa học pháp lý tồn tại nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng không có khái niệm về công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội được hầu hết những người nghiên cứu cùng thừa nhận.
Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015 quy định tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Luật và các văn bản hướng dẫn không quy định công cụ, phương tiện được dùng vào việc thực hiện tội phạm gì, tội cố ý hay vô ý sẽ bị tịch thu. Tuy nhiên, khoa học pháp lý tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể: - Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung của Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh không đưa ra quan điểm về vấn đề này.
- Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa được thể hiện tại sách Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 - Phần chung, Nhà xuất bản Tư pháp thì: “điều luật không xác định rõ, công cụ, phương tiện được dùng vào việc thực hiện tội phạm gì? Tội cố ý hay tội vô ý. Tuy nhiên, có thể hiểu việc tịch thu công cụ, phương tiện chỉ đặt ra đối với tội cố ý. Đối với các tội vô ý, như các tội xâm phạm an toàn giao thông thì việc tịch thu phương tiện phạm tội không được đặt ra”14.