Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 1. Khái quát chung về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm tai nạn lao động Tai nạn lao động (TNLĐ) xuất hiện cùng với quá trình lao động sản xuất của con người có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia.
TNLĐ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, thu nhập của bản thân NLĐ mà còn ảnh hưởng đến thân nhân, doanh nghiệp đơn vị nơi NLĐ làm, Nhà nước và xã hội. Một quốc gia, một xã hội, mỗi gia đình chỉ thực sự phát triển khi đảm bảo an sinh xã hội mà trong đó vấn đề TNLĐ được quan tâm. Trong các văn bản luật Quốc tế không nêu ra một khái niệm cụ thể về tai nạn lao độ, theo đó, tại Công ước số 121 về trợ cấp TNLĐ 1964 đã nêu rõ “mỗi nước thành viên phải đưa ra định nghĩa về “tai nạn lao động” và chỉ rõ các điều khoản trong định nghĩa” [30, Điều 7]. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLĐ được hiểu là tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay quá trình lao động, có thể gây tử vong hoặc gây cho cơ thể tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời [39].
Theo giáo trình BHXH của trường Đại học Lao động – Xã hội thì TNLĐ là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể NLĐ do tác động của yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất [37, tr. Theo Bộ luật lao động 2012:“TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” [26, Điều 142]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nói, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về TNLĐ, nhưng khái niệm về TNLĐ đều có điểm chung, đó là những tai nạn xảy ra bất ngờ, con người không thể lường trước được không biết được chính xác về thời gian và không gian; TNLĐ gắn với quá trình làm việc của NLĐ, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ lao động và tai nạn này phải để lại hậu quả hoặc là chết người hoặc làm tổn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể NLĐ [39, tr.372] Điểm quan trọng nhất để phân biệt TNLĐ với tai nạn rủi ro là ở chỗ tai nạn đó có gắn liền với việc thực hiện công việc nhiệm vụ của NLĐ (bị tai nạn) hay không. Chỉ được coi là TNLĐ khi tai nạn đó xảy ra trong quá trình NLĐ thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định, nội quy quy chế của đơn vị sử dụng lao động quy định hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên trong thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động… Những trường hợp khác được coi là tai nạn rủi ro và áp dụng chế độ bảo hiểm ốm đau để giải quyết quyền lợi cho NLĐ.
Mặc dù có nhiều khái niệm TNLĐ khác nhau, nhưng theo chúng tôi, TNLĐ là những tai nạn xảy ra bất ngờ con người không lường trước được, gây tổn thương hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Khái niệm bệnh nghề nghiệp BNN là những rủi ro nghề nghiệp của NLĐ, là tiêu chí đánh giá tình hình an toàn và vệ sinh lao động ở một đơn vị ngành hay quốc gia. Theo quy định của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì một bệnh mà NLĐ mắc phải do ảnh hưởng của một yếu tố có hại nào đó trong quá trình làm việc của mình được gọi là BNN. Các yếu tố ảnh hưởng này có tính chất thường xuyên và kéo dài gây nên sự tích lũy tiềm tàng về bệnh tật cho cơ thể.
Theo giáo trình BHXH của trường Đại học Lao động – Xã hội, BNN là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân gây bệnh do tác động thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu [37, tr.374] Điều kiện lao động xấu là không đảm bảo các yêu cầu an toàn, vệ sinh lao động.Việc xác định BNN phải dựa trên kết quả giám định và xác định các yếu tố độc hại có trong môi trường làm việc của NLĐ.Trong đó dấu hiệu “gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” chính là dấu hiệu quan trọng phân biệt giữa BNN và bệnh thông thường. Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp có thể là hệ quả của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại…. do các yếu tố hóa học như các chất độc, các loại hơi, khí độc, bụi độc, các chất phóng xạ… do các yếu tố sinh hóa như sinh vật, vi sinh vật, các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, côn trùng…hoặc các yếu tố về tư thế lao động, độ tiện nghi về không gian nơi làm việc, mất vệ sinh, các yếu tố tâm lý không thuận lợi…Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động dần dần, phá hủy các bộ phận, chức năng của NLĐ và sinh ra bệnh. BNN không chỉ tác động đến sức khỏe mà còn là nguyên nhân khiến sức lao động của NLĐ bị ảnh hưởng.
Khi bị BNN ở mức độ nhẹ, một số trường hợp vẫn có thể tham gia lao động, nhưng hiệu suất và chất lượng công việc sẽ bị giảm sút. Trường hợp nặng hơn không đủ sức khỏe để lao động, người bị BNN phải nghỉ việc, ảnh hưởng đến thu nhập của bản thân, NSDLĐ. Việc xác định BNN phụ thuộc vào khả năng xác định các yếu tố độc hại của môi trường lao động và trình độ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia. Nhìn chung, dù ở góc độ nào theo chúng tôi, BNN là bệnh mà NLĐ mắc phải do thường xuyên thực hiện nhiệm vụ lao động trong môi trường có yếu tố nghề nghiệp.
Nguyên nhân tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Bất kể ngành nghề, công việc, quốc gia nào cũng đều có thể xảy ra 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TNLĐ, BNN. Mặc dù đã có nhiều biện pháp đề giảm thiểu nhưng dù cố gắng đến đâu thì TNLĐ, BNN vẫn xảy ra. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến TNLĐ, BNN, có thể kể đến đến các nguyên nhân cơ bản sau: Điều kiện môi trường lao động xấu: Điều kiện lao động kém an toàn và môi trường làm việc bị ô nhiễm có thể làm tổn thương bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể con người và ảnh hưởng đến sức khoẻ NLĐ. Tình trạng trên xuất phát từ việc không phát hiện ra các mối nguy hiểm và ô nhiễm tại nơi làm việc, thiếu kiểm tra và xử lý triệt để những trường hợp không đảm bảo an toàn và ô nhiễm đang tồn tại trong môi trường lao động.
Chưa xử lý nghiêm hoặc mức xử phạt quá thấp không đủ sức răn đe đối với các trường hợp vi phạm quy trình lao động dẫn đến TNLĐ, BNN. Để đảm bảo cho NLĐ hoạt động trong điều kiện lao động tốt, cần phải cải thiện điều kiện làm việc bằng cách tổ chức đo đạc và kiểm tra môi trường lao động định kỳ, kiểm tra, phát hiện các mối nguy hiểm tại nơi làm việc và phải xử lý triệt để nhằm tạo điều kiện môi trường lao động thật tốt cho NLĐ. Không huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho NLĐ: Với những ngành nghề môi trường lao động có yếu tố độc hại hoặc làm việc với các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động,NLĐ trước khi làm việc cần phải được huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động. Khi không được huấn luyện, họ sẽ không nhận biết được các yếu tố nguy hiểm dẫn đến khi làm việc, tiếp cận vận hành máy móc có nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN rất cao.
Đồng thời, với những trường hợp thay đổi máy móc và thiết bị công nghệ mới, NLĐ phải được huấn luyện an toàn vệ sinh lao động phù hợp với điều kiện vận hành an toàn thiết bị, máy móc mới. NLĐ không thể biết để thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật đảm bảo an toàn nếu không được huấn luyện. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Không khám sức khỏe định kỳ cho NLĐ: Khám sức khỏe định kỳ là để cảnh báo tình trạng sức khỏe của NLĐ, để từ đó họ thực hiện tốt các phương tiện bảo hộ bảo vệ cá nhân trong quá trình lao động sản xuất. Đồng thời là cơ sở để NSDLĐ biết được tình trạng môi trường làm việc đã đảm bảo toàn lao động chưa, từ đó tiến hành cải thiện môi trường lao động không để ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ.
Đối với NLĐ không được khám sức khỏe định kỳ thì không phát hiện được tình trạng sức khỏe, từ đó có thể họ phải làm việc trong điều kiện quá sức sẽ gây mỏi mệt, thiếu quan sát, mất bình tĩnh, vận hành máy móc không chính xác dẫn đến khả năng xảy ra TNLĐ rất cao hoặc có BNN mà không phát hiện để chữa trị kịp thời ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống. Ý thức chấp hành quy trình an toàn, vệ sinh lao động của NLĐ kém: Ở những ngành nghề, công việc có mối nguy hiểm, trong quá trình lao động sản xuất đều phải có quy trình hướng dẫn đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động cho NLĐ.Tuy nhiên, NLĐ chưa nghiêm túc chấp hành quy trình trong quá trình lao động sản xuất, từ đó xuất hiện các hiện tượng làm bừa, làm ẩu, không tuân thủ quy trình, không sử dụng các trang thiết bị bảo hộ, không chấp hành mệnh lệnh, làm việc không có sự phân công dẫn đến TNLĐ. Việc không chấp hành quy trình, quy định thường thấy ở những lao động trẻ, họ chủ quan, lơ là với các mối nguy hiểm, với những lời cảnh báo an toàn trong lao động. Vì vậy tất yếu những mối nguy hiểm và tai nạn luôn có thể xảy ra.
Thiếu kiểm tra, xử lý từ người làm công tác an toàn lao động: Để đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động,các cơ sở sản xuất phải tổ chức bộ phận làm công tác kỹ thuật kiểm tra môi trường, an toàn, bảo hộ lao động.