PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ khi đất nƣớc ta thực hiện đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội của đất nƣớc đã có những bƣớc phát triển quan trọng. Chỉ tiêu tăng trƣởng luôn đƣợc duy trì, trung bình năm khoảng 7%; các chỉ báo xã hội nhƣ xoá đói, giảm nghèo, phát triển con ngƣời, bình đẳng giới đều có những bƣớc tiến đáng kể. Với mục đích đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nƣớc nhằm đạt đƣợc những kết quả cao hơn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định đƣờng lối phát triển kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng kinh tế độc lập tự chủ, đƣa nƣớc ta trở thành một nƣớc công nghiệp; ƣu tiên phát triển lực lƣợng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ các nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.
Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm tới việc thúc đẩy và phát triển nguồn nhân lực của đất nƣớc. Bởi vì, trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực giữ vai trò cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nƣớc. Lực lƣợng lao động của đất nƣớc khoảng 40 triệu ngƣời là một tiềm năng rất to lớn để phát triển đất nƣớc. Phát huy tiềm năng này để phục vụ phát triển đất nƣớc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta.
Để khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực lao động phục vụ phát triển đất nƣớc, cần phải không ngừng nâng cao ý thức, thái độ tuân thủ pháp luật lao động và kỷ luật lao động của đội ngũ lao động, đồng thời xây dựng một môi trƣờng lao động mà ở đó ngƣời lao động có thể phát huy tối đa khả năng và sức sáng tạo của mình. Hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất là một công cụ hữu hiệu để xây dựng và tạo lập lực lƣợng lao động chuyên nghiệp, tác phong công nghiệp hiện đại, ý thức kỷ luật cao đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Khi kỷ luật lao động đƣợc pháp luật quy định rõ ràng, minh bạch, và đƣợc áp dụng một cách phù hợp tại doanh nghiệp, thì kết quả thu đƣợc sẽ là sự ổn định và trật tự trong lao động. Ngƣời lao động sẽ có đƣợc thái độ, tác phong lao động nề nếp, mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong quan hệ lao 3 động đƣợc đảm bảo ổn định, và hoạt động lao động sản xuất của tập thể ngƣời đạt đƣợc mục tiêu chung đề ra.
Chế độ kỷ luật lao động rõ ràng và phù hợp đƣợc thực hiện sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong nƣớc. Đảng và Nhà nƣớc ta thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho các doanh nghiệp ra đời. Doanh nghiệp tồn tại và phát triển tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó con ngƣời là yếu tố quan trọng nhất. Trong điều kiện lao động nƣớc ta hiện nay, thì vấn đề tuân thủ kỷ luật lao động của cả ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động đƣợc đặt ra nhƣ một thách thức.
Tình trạng ngƣời lao động coi thƣờng kỷ luật lao động, thái độ làm việc mang nặng tính chất của một nền sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu vẫn còn phổ biến. Bên cạnh đó, không ít ngƣời sử dụng lao động còn chƣa nhận thức đƣợc vai trò ý nghĩa của kỷ luật lao động. Họ có thể coi nhẹ hoặc coi kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất chỉ là một công cụ để trừng phạt ngƣời lao động. Thực trạng này đòi hỏi phải đƣợc giải quyết tận gốc, kịp thời để tránh những tác động tiêu cực tới sự phát triển các thành phần kinh tế ở nƣớc ta.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động nói chung và các quy định về kỷ luật lao động nói riêng cùng với việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định này là một trong những giải pháp cho vấn đề. Hoàn thiện quy định của pháp luật lao động về kỷ luật lao động, nâng cao kiến thức pháp luật của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động sẽ góp phần ổn định quan hệ lao động và hạn chế những tranh chấp lao động. Hiện nay khá nhiều tranh chấp lao động xảy ra tại các các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong số các tranh chấp này, không ít các tranh chấp về kỷ luật lao động.
Theo số liệu của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bình Dƣơng năm 2004, toàn tỉnh đã xảy ra 52 vụ tranh chấp lao động, trong đó có 19 vụ dẫn đến đình công, lãn công với gần 5.000 công nhân tham gia. Nguyên nhân chủ yếu của các vụ tranh chấp là tăng ca không bảo đảm sự thỏa thuận và vƣợt quá mức quy định, đòi tăng lƣơng, không tham gia bảo hiểm xã hội, ký hợp đồng lao động, điều kiện làm việc không thuận lợi, trả lƣơng chậm, sa thải ngƣời lao động không đúng pháp luật 1. Khi các quy định của pháp luật lao động nói chung và các quy định về 4 kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất nói riêng, trở nên rõ ràng, phù hợp với những điều kiện thực tiễn, thì các chủ thể tham gia quan hệ lao động sẽ tích cực thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Điều này sẽ góp phần giảm đáng kể các tranh chấp lao động.
Nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của ngƣời lao động còn có tác động tích cực tới hình ảnh và uy tín của lao động Việt nam trên thị trƣờng lao động quốc tế. Không chỉ các doanh nghiệp trong nƣớc mong muốn có nguồn lao động có trình độ, có ý thức kỷ luật cao, mà cả các doanh nghiệp ở các nƣớc trên thế giới cũng vậy. Lao động Việt Nam có một số ƣu điểm nhƣ cần cù, nhanh trí, nhất là không có những khác biệt hay kỳ thị về tôn giáo, chính trị. Những năm gần đây, tình hình xuất khẩu lao động của nƣớc ta đã có những bƣớc tiến đáng kể.
Quý I/2005, cả nƣớc đã có 16.314 lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài, tăng 5 ngàn ngƣời so với cùng kỳ năm ngoài, và mục tiêu năm 2005 là xuất khẩu 70. Để đạt đƣợc mục tiêu này, việc nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật lao động cho ngƣời lao động là một nội dung cốt yếu, bởi một thực tế đáng buồn đã và đang sảy ra là lao động Việt Nam tự ý bỏ việc, sống tự do hoặc đi làm “chui” ở nơi khác; ngƣời lao động lôi kéo nhau phá hợp đồng, cố ý ở lại sau khi đã hết hợp đồng diễn ra ở hầu khắp thị trƣờng, trong đó cao nhất là ở Đài Loan với tỷ lệ từ 8% đến 9%. Thực trạng này nếu không đƣợc giải quyết có thể sẽ dẫn đến hậu quả là các nƣớc đóng cửa đối với lao động Việt Nam. Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu trên, tôi đã chọn đề tài "Chế độ kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất theo Pháp luật lao động Việt nam - Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng tại một số doanh nghiệp" làm đề tài luận văn của mình.
Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài Các công trình nghiên cứu về các chế định của pháp luật lao động Việt Nam nhƣ hợp đồng lao động, tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động, đình công, tiền lƣơng… đã đƣợc thực hiện khá nhiều. Tuy nhiên, những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất thì không nhiều. Ngoài một số bài viết về các khía cạnh riêng rẽ của vấn đề trên báo, tạp chí, đã có một luận văn thạc sỹ nghiên cứu vấn đề từ góc độ lý luận, 5 không đi sâu vào thực tiễn áp dụng chế độ kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất tại doanh nghiệp. Phạm vi và mục tiêu nghiên cứu của luận văn Phạm vi nghiên cứu của luận văn trƣớc hết tập trung chủ yếu vào các văn bản pháp luật hiện hành về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, và việc thực hiện những quy định này ở một số doanh nghiệp đại diện cho các loại hình doanh nghiệp.
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu nội dung, ý nghĩa của chế độ kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động Việt Nam và việc áp dụng chế định pháp luật này tại doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu lớn này, nghiên cứu nhằm vào các mục tiêu cụ thể sau đây: Một là, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động. Hai là, nghiên cứu một cách hệ thống các quy định về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động Việt Nam. Ba là, tìm hiểu thực tiễn của việc áp dụng chế độ kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở nƣớc ta, từ đó đƣa ra những đánh giá về thực trạng của pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất cũng nhƣ tình hình thực hiện chế độ này ở một số doanh nghiệp.
Bốn là, đề xuất những kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện chế độ kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất và vấn đề thực hiện các quy định đó trong thực tế tại doanh nghiệp. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; dựa trên quan điểm đƣờng lối của Đảng Cộng sản Việt nam về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trƣờng. Trong quá trình nghiên cứu, các phƣơng pháp điều tra, khảo sát, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề. 6 Kết hợp sử dụng phƣơng pháp chuyên gia: Thực hiện các cuộc trao đổi với các giáo sƣ, tiến sỹ, các cán bộ nghiên cứu có uy tín… xác định, đánh giá vấn đề, từ đó đƣa ra giải pháp.
Phƣơng pháp trò chuyện, trao đổi, toạ đàm: trực tiếp trao đổi với ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động để thu thập ý kiến của những ngƣời trực tiếp chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động.