Luận án: Chất lượng dịch vụ công nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng

Khám phá chất lượng cung ứng dịch vụ công trong sản xuất nông nghiệp tại vùng đồng bằng sông Hồng, ảnh hưởng và giải pháp cải thiện.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2022

210
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục hình

MỞ ĐẦU

Lý do nghiên cứu của đề tài luận án

Những điểm mới của luận án

Kết cấu nội dung luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan các công trình và khoảng trống nghiên cứu

1.2. Tổng quan các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ

1.3. Tổng quan các nghiên cứu về chất lượng cung ứng dịch vụ công

1.4. Tổng quan các nghiên cứu về chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

1.5. Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

1.6. Những khoảng trống tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.7. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.7.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.7.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.7.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.8. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.8.1. Cách tiếp cận và khung phân tích

1.8.2. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp

1.8.3. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu sơ cấp

1.8.4. Phương pháp phân tích thông tin, số liệu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

2.1. Cơ sở lý luận về chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.2. Dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.3. Cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.4. Chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.5. Mô hình và các giả thuyết đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.7. Kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.7.1. Kinh nghiệm một số vùng nông nghiệp tại các nước trên thế giới

2.7.2. Kinh nghiệm một số vùng, địa phương trong nước

2.7.3. Một số bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

3.1. Sản xuất nông nghiệp và chính sách của nhà nước về cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng

3.2. Thực trạng sản xuất nông nghiệp ở Vùng Đồng bằng sông Hồng

3.3. Thực trạng khuôn khổ chính sách cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

3.4. Thực trạng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp ở Vùng Đồng bằng sông Hồng

3.5. Thực trạng cung ứng dịch vụ khuyến nông

3.6. Thực trạng cung ứng dịch vụ bảo vệ thực vật

3.7. Thực trạng chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng

3.7.1. Chất lượng cung ứng dịch vụ khuyến nông

3.7.2. Chất lượng cung ứng dịch vụ bảo vệ thực vật

3.8. Đánh giá chung về chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng

3.8.1. Những kết quả đạt được

3.8.2. Những hạn chế, bất cập

3.8.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

4.1. Bối cảnh và những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ tới

4.1.1. Bối cảnh có liên quan đến dịch vụ công và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

4.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp ở Vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ tới

4.2. Quan điểm và định hướng nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ tới năm 2030

4.2.1. Quan điểm về nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng

4.2.2. Định hướng nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng

4.3. Giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ tới năm 2030

4.3.1. Nhóm các giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước

4.3.2. Nhóm giải pháp liên quan đến bên cung ứng dịch vụ

4.3.3. Nhóm giải pháp liên quan đến bên thụ hưởng dịch vụ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Tổng quan về chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp

Chất lượng cung ứng dịch vụ công là yếu tố quan trọng trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Hồng. Vùng này có vai trò chiến lược trong nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam. Việc cung ứng dịch vụ công hiệu quả không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn cải thiện đời sống của nông dân. Các dịch vụ công như khuyến nông, bảo vệ thực vật, và quản lý chất lượng nông sản cần được tổ chức và triển khai một cách đồng bộ và hiệu quả.

1.1. Khái niệm và vai trò của dịch vụ công trong nông nghiệp

Dịch vụ công trong nông nghiệp bao gồm các hoạt động hỗ trợ nông dân như khuyến nông, bảo vệ thực vật và cung cấp thông tin. Những dịch vụ này giúp nông dân tiếp cận công nghệ mới, cải thiện quy trình sản xuất và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

1.2. Tình hình cung ứng dịch vụ công ở vùng Đồng bằng sông Hồng

Vùng Đồng bằng sông Hồng hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc cung ứng dịch vụ công. Hệ thống tổ chức cung ứng chưa đồng bộ, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, và năng lực chuyên môn của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

II. Những thách thức trong chất lượng cung ứng dịch vụ công nông nghiệp

Chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Hồng đang gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn lực, sự không đồng bộ trong tổ chức và quản lý, và sự thiếu hụt thông tin chính xác đã ảnh hưởng đến hiệu quả của dịch vụ. Để cải thiện chất lượng, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất

Nhiều địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng vẫn còn thiếu cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung ứng dịch vụ công. Điều này dẫn đến việc không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của nông dân, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.

2.2. Sự không đồng bộ trong tổ chức và quản lý

Hệ thống tổ chức cung ứng dịch vụ công chưa được đồng bộ, dẫn đến sự chồng chéo trong quản lý và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Điều này làm giảm hiệu quả của các chương trình hỗ trợ nông nghiệp.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công nông nghiệp

Để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp, cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và cải cách quy trình cung ứng. Việc đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ cũng là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ

Đào tạo cán bộ là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công. Cán bộ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của nông dân và thị trường.

3.2. Cải cách quy trình cung ứng dịch vụ

Cải cách quy trình cung ứng dịch vụ công cần được thực hiện để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ sẽ giúp nâng cao chất lượng và giảm thiểu thời gian chờ đợi của nông dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chất lượng dịch vụ công

Nghiên cứu về chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các mô hình dịch vụ mới đã được triển khai và nhận được sự phản hồi tích cực từ nông dân. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo tính bền vững.

4.1. Mô hình dịch vụ khuyến nông hiệu quả

Mô hình dịch vụ khuyến nông đã được áp dụng thành công tại một số địa phương, giúp nông dân tiếp cận công nghệ mới và cải thiện năng suất. Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình triển khai cũng là một yếu tố quan trọng.

4.2. Đánh giá sự hài lòng của nông dân

Kết quả khảo sát cho thấy nông dân đánh giá cao chất lượng dịch vụ công, đặc biệt là trong lĩnh vực khuyến nông và bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nông dân.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho dịch vụ công nông nghiệp

Chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Hồng cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nông dân. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và hiệu quả, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp.

5.1. Định hướng phát triển dịch vụ công nông nghiệp

Định hướng phát triển dịch vụ công nông nghiệp cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để đảm bảo tính bền vững.

5.2. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ từ nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công. Cần có các chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển dịch vụ công nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu của nông dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông hồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ Theo một tổng quan nghiên cứu “Service quality models: A review” của Seth và cộng sự (2005), có khoảng 19 mô hình chất lượng dịch vụ khác nhau đã được các học giả phát triển. Tuy nhiên, chúng ta có thể chia chúng thành 2 nhóm mô hình chính.

Nhóm A là nhóm các mô hình sử dụng nền tảng của thang đo Servqual phát triển bởi Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1991). Các mô hình trong nhóm này được phát triển từ việc sử dụng các tiêu chí chất lượng dịch vụ trong Servqual các biến thể của chúng khi đo lường chất lượng dịch vụ. Nhóm B là các mô hình độc lập khác như mô hình chất lượng kỹ thuật và chức năng của Gronroos, mô hình chất lượng dịch vụ thuộc tính của Haywood- Farmer, v. Theo một tổng quan nghiên cứu “A Review of Literature on the Gaps Model on Service Quality: A 3-Decades Period: 1985–2013” được thực hiện bởi Mauri (2013) thì thang đo Servqual của nhóm tác giả Parasuraman và cộng sự là cách tiếp cận được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ.

Buttle (1996) trong nghiên cứu “SERVQUAL: review, critique, research agenda” cũng chỉ ra nhiều nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết của thang đo Servqual cho các lĩnh vực dịch vụ và các vùng địa lý khác nhau, ví dụ bán lẻ lốp xe, dịch vụ làm răng, du lịch, dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng xe ô tô, giáo dục đại học, dịch vụ tài chính, thiết kế, y tế ở bệnh viên, ngân hàng, chính quyền địa phương, v. Nghiên cứu “Servqual: A multiple-item scale for measuring consumer perception” của Parasuraman và cộng sự (1988) đã phát triển và đề xuất thang đo chất lượng Servqual gồm 5 tiêu chí chất lượng (RATER) là: Sự tin cậy 7 (reliability), Sự đảm bảo hay Năng lực phục vụ (assurance), Phương diện hữu hình (tangibles), Sự đồng cảm (emphathy), Sự đáp ứng (responsiveness). Thang đo Servqual tương ứng với một hệ thống bảng hỏi gồm 22 nhận định về kỳ vọng về chất lượng dịch vụ và 22 nhận định về thực tế cảm nhận dịch vụ. Chênh lệch giữa kỳ vọng (E – Expectation) và cảm nhận thực tế về chất lượng dịch vụ (P - Perception) được hiểu là cảm nhận chất lượng dịch vụ dưới góc độ người tiêu dùng.

Nếu E – P > 0, tức là kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ cao hơn thực tế trải nghiệm, nên thường có mức độ hài lòng thấp hoặc không hài lòng; nếu E – P <hoặc = 0, tức là thực tế cảm nhận dịch vụ còn cao hơn cả kỳ vọng, theo đó mức độ hài lòng thường cao. Chất lượng dịch vụ = f (P – E) Tuy nhiên, nghiên cứu “Measuring Service Quality: A Reexamination and Extension” của Cronin Jr & Taylor (1992) lại chỉ ra rằng thang đo chỉ dựa trên cảm nhận dịch vụ E (được biết đến với tên gọi thang đo Servperf) sẽ hiệu quả và tránh nhầm lẫn cho người trả lời hơn. Vì Servperf không đo lường khía cạnh kỳ vọng dịch vụ, nên giảm được 50% số câu hỏi trong bảng khảo sát, từ 44 câu xuống còn 22 câu. Theo tác giả, khi khách hàng đưa ra cảm nhận thì đồng thời đã có sự so sánh trong đầu giữa cảm nhận và kỳ vọng, do đó không cần đo lường khía cạnh kỳ vọng về dịch vụ.

Trong hai thang đo Servqual và Servperf, cái nào sẽ phù hợp hơn khi đo lường chất lượng dịch vụ vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà khoa học. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, cả hai mô hình đều có khả năng dự đoán/phản ánh chất lượng dịch vụ tổng thể, và khả năng này biến thiên tuỳ theo bối cảnh và mục đích của phân tích; mỗi cách tiếp cận đều có những ưu và nhược điểm riêng, tuỳ trường hợp (Mauri, 2013). Một trong những hạn chế của Servqual được Buttle (1996) chỉ ra là mô hình mới chỉ tập trung vào quá trình cung ứng dịch vụ, tức là các yếu tố thuộc về tương tác giữa người cung ứng và khách hàng, thiếu xem xét tới khía cạnh đầu ra của dịch vụ. Gronroos (1984) trong nghiên cứu “A Service Quality Model and its Marketing Implications” cho rằng chất lượng dịch vụ gồm chất 8 lượng kỹ thuật và chất lượng vận hành, trong đó chất lượng kỹ thuật phản ánh đầu ra của dịch vụ.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác đã kiểm chứng và thể hiện sự đồng tình về vai trò quan trọng của yếu tố kết quả đầu ra đối với cảm nhận về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng (Rust and Oliver, 1994; McDougall, 1995; Brady, 2001; Gunderson, 2006; Rhee, 2009). Tổng quan các nghiên cứu về chất lượng cung ứng dịch vụ công Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hoà (2010) về “Tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công tại các cơ quan hành chính nhà nước” dựa vào phương pháp tiếp cận theo quá trình: quá trình tạo ra dịch vụ hành chính là quá trình chuyển hoá các yếu tố đầu vào (các yêu cầu, mong đợi của người dân, các nguồn lực và các yếu tố khác) thành các kết quả đầu ra (các dịch vụ làm thoả mãn những nhu cầu của người dân và các yêu cầu về quản lý nhà nước). Theo cách tiếp cận này, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng của dịch vụ hành chính công phải phản ánh được các yếu tố: mục tiêu, đầu vào, quá trình, đầu ra và kết quả của đầu ra. Theo tác giả, có hai cách đánh giá chất lượng hành chính công: một là, tiến hành đo lường chất lượng dịch vụ hành chính công theo các tiêu chí trên, do các cơ quan hành chính hay các tổ chức dịch vụ đánh giá thực hiện; hai là, xác định mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng (công dân và tổ chức), sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học như phiếu điều tra, phỏng vấn, kết hợp với phương pháp đánh giá dư luận.

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Duy Phương và Huỳnh Thuỵ Thuỳ Linh (2019) về “Đo lường cung ứng dịch vụ hành chính công cấp quận theo kinh nghiệm thực tiễn của doanh nghiệp và người dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh” sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, khảo sát 300 doanh nghiệp và người dân, và tiến hành kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy bội. Kết quả đã xác định 2 nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp tới cảm nhận chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công là đồng cảm - đảm bảo và lệ phí. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất 2 hàm ý chính sách: một là, nâng cao sự đồng cảm và đảm bảo của đội ngũ cán bộ, công chức thông qua tuyển dụng nhân sự đúng quy định, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giải quyết yêu cầu của người dân một 9 cách hợp lý và nhanh nhất…; hai là, đảm bảo công khai bảng giá phí, lệ phí, tránh nhũng nhiều, vòi vĩnh, xây dựng cơ chế giám sát khi thu phí người dân, v. Luận án tiến sĩ của Vũ Quỳnh (2017) về “Chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố Hà Nội” tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ hành chính công, dựa trên mô hình chất lượng dịch vụ Servqual của Parasuraman và mô hình Gronroos.

Kết quả nghiên cứu cho phép hình thành 3 nhóm nhân tố mới trên cơ sở điều chỉnh và sắp xếp các nhân tố của mô hình nghiên cứu, có ảnh hưởng tới sự hài lòng của khách hàng gồm: (i) năng lực phục vụ, (ii) sự đồng cảm và (iii) phương diện hữu hình. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu và giải pháp đề xuất chỉ phù hợp với Hà Nội trong giả định những chủ trương, chính sách về cải cách hành chính được thực hiện. Tại Việt Nam, Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI được xem là công cụ phản ánh tiếng nói chung của người dân về mức độ hiệu quả của bộ máy nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ của chính quyền các cấp (CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP, 2019). Năm 2018, chỉ số PAPI bao gồm 8 chỉ số nội dung và 28 chỉ số nội dung thành phần, cụ thể: Tham gia của người dân ở cấp ở sở; Công khai, minh bạch; Trách nhiệm giải trình với người dân; Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; Thủ tục hành chính công; Cung ứng dịch vụ công; Quản trị môi trường; Quản trị điện tử.

Trong đó, liên quan tới cung ứng dịch vụ công, nghiên cứu mới chỉ đề cập tới y tế công, giáo dục tiểu học công, cơ sở hạ tầng cơ bản, và an ninh trật tự. Đây là những dịch vụ công cơ bản liên quan tới cuộc sống của người dân. Lĩnh vực dịch vụ công lĩnh vực nông nghiệp không được đề cập. Chỉ số hài lòng về dịch vụ hành chính công (Satisfaction Index of Public Administration Services - SIPAS) là phương pháp định lượng đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước về một số dịch vụ hành chính công cụ thể (Bộ Nội vụ, 2015).

Chỉ số SIPAS nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công, thông qua đó nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân và tổ chức, để có những biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ và nâng cao sự hài lòng của 10 người dân và tổ chức. Nghiên cứu SIPAS triển khai khảo sát hàng năm (kể từ 2015), tập trung vào 5 tiêu chí chất lượng là: (1) Tiếp cận dịch vụ, (2) Thủ tục hành chính, (3) Sự phục vụ của công chức, (4) Kết quả giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước, (5) Việc tiếp nhận, giải quyết, góp ý phản ánh, kiến nghị. Người dân và tổ chức đưa ra đánh giá về sự hài lòng đối với từng tiêu chí và đánh giá chung về sự hài lòng đối với toàn bộ dịch vụ theo thang đánh giá 5 mức: 1- Rất không hài lòng, 2- Không hài lòng, 3- Bình thường, 4- Hài lòng và 5- Rất hài lòng. Trong đó, thuật ngữ “hài lòng” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau: sự đồng ý, cảm giác thoải mái, cảm giác đạt được mục đích, cảm giác không gặp rắc rối, v.

Chỉ số SIPAS tập trung vào dịch vụ hành chính, cũng chưa đề cập tới dịch vụ sự nghiệp công lĩnh vực nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ