CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ CỦA TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Chăm sóc, giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non luôn nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà giáo dục ở nhiều nước trên thế giới, có thể kể đến một số công trình sau: Tác giả Alison Elliott (2006) cho rằng, cách xác định CL trong việc thay đổi quản trị và bối cảnh chính sách là vấn đề lớn đối với ngành MN.
Các yếu tố quyết định CL chăm sóc, giáo dục trẻ em là sự thiết lập một cách tốt nhất về phát triển xã hội và nhận thức. Tác giả đưa ra 05 yếu tố liên quan đến CL chăm sóc, giáo dục trẻ, bao gồm: (1) cách tiếp cận và tham gia, (2) chương trình giảng dạy và CL sư phạm; (3) năng lực, trình độ và CL của đội ngũ GV, nhân viên; (4) sự công bằng; (5) khả năng chi trả và tài trợ [76]. Lloyd và Michael Bangser (2009) đã chỉ ra một số yếu tố nâng cao CL chăm sóc, giáo dục trẻ như: quy mô lớp học, cải cách các chương trình ngoại khóa; hỗ trợ lương cho GV và yêu cầu về chứng chỉ nghề nghiệp của GV. Tập trung đầu tư chương trình GDMN, đội ngũ GV, môi trường học tập, CSVC để có biện pháp can thiệp CL và mang lại lợi ích lâu dài.
Các tác giả đồng quan điểm và đánh giá cao vai trò của sự tương tác, CL về sự tương tác giữa GVMN và trẻ em là quan trọng nhất. Tuy nhiên, ngay cả khi có chính sách, nguồn lực đầu tư tốt thì trường MN vẫn phải đối mặt với những thách thức về việc duy trì CL chăm sóc, giáo dục trẻ. Do đó, việc duy trì CL và ĐBCL cần ưu tiên đến các thành tố của CL chăm sóc, giáo dục trẻ [78]. Theo tác giả Lloyd Megan Millenkfy (2010), điều quan trọng là duy trì các yếu tố liên quan nhằm cung cấp hiệu quả dịch vụ chất lượng GDMN; trong đó, yếu tố tham gia của đội ngũ GV có ý nghĩa quan trọng.
CL chăm sóc, giáo 9 dục trẻ phụ thuộc phần lớn vào kiến thức chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng xử lý tình huống của GV đối với trẻ em. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ, đòi hỏi đội ngũ GV và nhân viên cần được trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu của chương trình GDMN [83]. Dalli C, White E, Rockel J, & Duhn I (2011), các yếu tố cấu thành CL chăm sóc, giáo dục trẻ bao gồm: thành phần nhóm, trình độ GV, nhân viên, điều kiện làm việc. Theo đó, tiêu chuẩn môi trường và không gian được đánh giá là nhân tố thúc đẩy CL chăm sóc, giáo dục trẻ hiệu quả [79].
Theo tác giả Yoshikawa và cộng sự (2013) cho rằng: chương trình dạy học là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo cho trẻ được hoạt động, trải nghiệm với chương trình chăm sóc, giáo dục có CL. Đồng thời, tạo điều kiện phát triển nhận thức và khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ [93]. Tại Mỹ, hầu hết các chương trình GDMN do các tổ chức tư nhân QL. Theo báo cáo hàng năm của Văn phòng giáo dục Hoa Kỳ (2015), khoảng 4 triệu trẻ em vào học mẫu giáo, trong khi cha mẹ trẻ cố gắng tìm kiếm cơ hội cho con được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, giáo dục ĐBCL thì vấn đề tăng học phí của các trường MN đang khiến phụ huynh gặp khó khăn.
Bên cạnh nhiều cơ sở GDMN của tư nhân tồn tại, một số cha mẹ trẻ có khả năng chi trả học phí thì Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tài trợ cho các chương trình dành cho những trẻ em mà cha mẹ không đủ khả năng chi trả học phí đối với các cơ sở này. Mặc dù, sự cạnh tranh giữa các trường MN là một cách giảm chi phí học phí và nâng cao CL chăm sóc, giáo dục trẻ. Tuy nhiên, Chính phủ cần có những hành động định hướng GDMN dễ tiếp cận hơn đối với trẻ em của mọi thành phần trong xã hội thông qua việc đưa ra quyết định về các tiêu chuẩn chăm sóc, giáo dục trẻ [91]. Tác giả Moss và A.
Pence (1994), “Định giá chất lượng trong dịch vụ trẻ em, cách tiếp cận mới để xác định chất lượng”, CL trở thành vấn đề được ưu tiên đối với tất cả các dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em. Các tác giả đưa ra phương pháp tiếp cận xác định CL như: giá trị CL, xác định và định giá CL là phụ huynh. Việc điều tra về các giá trị CL chăm sóc, giáo dục trẻ và quy trình đánh giá CL do các bên liên quan thực hiện [85]. Joseph Hotz and Mo Xiao (2011), CL chăm sóc, giáo dục trẻ phụ thuộc vào chính sách đầu tư và các quy định về tiêu chuẩn nhân lực, CSVC và địa điểm của nhà trường.
Tuy nhiên, theo các tác giả này, yếu tố thu nhập của các bậc phụ huynh là sự quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em [82]. Như vậy, có thể nói CL chăm sóc, giáo dục trẻ em mầm non là vấn đề được các nhà giáo dục trên thế giới hết sức quan tâm, xem đây là vấn đề có tính cấp thiết, tính thời sự đối với GDMN hiện nay. Nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục Việt Nam giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách, trí tuệ; có một số công trình nghiên cứu sau đây: Theo tác giả Trần Thị Bích Trà và cộng sự, trong nghiên cứu “Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập” đã đề xuất được các giải pháp nâng cao CL chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập [65] và công trình nghiên cứu “Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình” tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận về CL chăm sóc, giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình và một số kinh nghiệm quốc tế được áp dụng trong nghiên cứu này. Ngoài ra, nghiên cứu khảo sát thực trạng, đề xuất các biện pháp nâng cao CL chăm sóc, giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình [66].
Trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm, “Quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trong thời kỳ hội nhập” đã đề xuất 03 mô hình cơ sở GDMN ngoài công lập (dân lập, tư thục và cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài). Xác định 06 giải pháp vĩ mô, bao gồm: (1) Nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về GDMN và cơ sở GDMN ngoài công lập; (2) Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế hoạt động QL cơ sở GDMN ngoài công lập; (3) Thực hiện tốt việc phân cấp QL; (4) Chỉ đạo triển khai thực hiện theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về QL cơ sở GDMN ngoài công lập; (5) Đổi mới công tác giám sát theo hướng phát huy vai trò của xã hội và của các 11 chủ thể khác; (6) Đổi mới công tác QL cơ sở GDMN ngoài công lập của các cấp [67]. Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu và cộng sự trong nghiên cứu “Cở sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” nghiên cứu đã xác định được các tiêu chí và chỉ số CL của hệ thống GDMN gồm có 03 thành tố, 14 tiêu chí cơ bản và 63 chỉ số [13]. Tác giả Nguyễn Văn Hùng trong công trình nghiên cứu “Tổng quan tình hình chăm sóc và giáo dục trẻ thơ”, thực hiện đánh giá thực trạng phát triển cơ sở GDMN công lập và ngoài công lập ở Việt Nam.
Nghiên cứu nêu các loại hình chăm sóc, giáo dục trẻ và xu hướng chủ yếu trong tham gia dịch vụ GDMN. Ở nghiên cứu này tác giả quan tâm đến các yếu tố về chính sách Nhà nước và CL chăm sóc, giáo dục trẻ, đặc biệt vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và giám sát GVMN [34]. Tác giả Tạ Ngọc Thanh trong công trình nghiên cứu "Xây dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm (khối mẫu giáo)", cho rằng: CL chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non bao gồm toàn bộ các nhân tố, các quan hệ. có liên quan đến trẻ, góp phần tạo ra những thay đổi cơ bản nhất trong sự phát triển toàn diện của trẻ và của nhà trường [60].
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa trong giáo trình “Đánh giá trong giáo dục mầm non” chỉ ra các khía cạnh của chất lượng GDMN, đó là: i) ngữ cảnh (dân cư, nhận thức và thái độ của cộng đồng; tình trạng phát triển kinh tế - xã hội), ii) đầu vào (người học, chương trình giáo dục, người dạy, đầu tư); iii) Quản lý hệ thống (tổ chức hệ thống, các chính sách và cơ chế vận hành); iv) đầu ra (sự phát triển mạng lưới trường, sự phát triển của trẻ, sự phát triển của người dạy và lợi ích kinh tế) [63]. Nhóm tác giả Hoàng Đức Minh, Nguyễn Thị Mỹ Trinh và cộng sự trong tài liệu “Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng II” khẳng định: “Chất lượng GDMN là mức độ đáp ứng mục tiêu 12 GDMN”, trong đó các thành tố tạo nên CLGD, đó là: bối cảnh, đầu vào, quá trình giáo dục tại nhà trường và đầu ra [45]. Trong nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Ba “Quản lý chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non ở trường mầm non tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá về CL chăm sóc, giáo dục trẻ bao gồm 08 lĩnh vực và 44 tiêu chí đánh giá CL chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường MNTT. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất 06 giải pháp QLCL chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường MNTT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh [1].
Nghiên cứu về đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Theo tác giả Freeman (1994) trong nghiên cứu “Đảm bảo chất lượng trong giáo dục và đào tạo” cho rằng, ĐBCL là một cách tiếp cận của công nghiệp sản xuất sử dụng nhằm đạt được CL tốt nhất. Đây là cách tiếp cận có hệ thống, xác định nhu cầu thị trường, điều chỉnh phương thức làm việc đáp ứng yêu cầu đặt ra.