Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, với chính sách mở của của Đảng và Nhà nước, đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu về thực phẩm tăng nhanh, tăng mạnh cả về chất lượng và số lượng trong đó có nhu cầu về thịt và sữa. Trước thực tế đó, nhằm sử dụng lợi thế sẵn có của ngành chăn nuôi nước ta là khai thác tối ưu nguồn thức ăn, bãi chăn cũng như nguồn phụ phẩm công - nông nghiệp và đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi đặc biệt là ngành chăn nuôi bò sữa để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm của con người. So với một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ thì ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta là một ngành sản xuất còn non trẻ. Trong những năm gần đây nhà nước đang khuyến khích và có nhiều chương trình đầu tư cho lĩnh vực này.
Vì vậy, đàn bò sữa đã phát triển khá nhanh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Sơn La, Lâm Đồng. Năm 1999 nước ta có khoảng 29.000 con, cuối năm 2002 là 54.400 con và đến tháng 9/2003 là 80.000 con bò sữa nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của người tiêu dùng. Một phần chưa đáp ứng được nhu cầu đó là do chúng ta chưa phát huy hết tiềm năng sinh học của chúng. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều của nước ta, chưa thích hợp với giống Bò Hostein Friesion (ôn đới), vì vậy chúng ta chỉ nuôi con lai hướng sữa (HF x LS), nhưng phương thức chăn nuôi thường phân tán ở các nông hộ và các trại nhỏ với điều kiện nuôi dưỡng khác nhau.
Do đó, thường dẫn đến các chỉ tiêu sinh sản không ổn định và ở mức cao như: tuổi động dục lần đầu cao (24 - 36 tháng), khoảng cách giữa hai lứa đẻ kéo dài (14 - 18 Luan van 2 tháng). Ngoài ra, tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục cũng như mắc một số bệnh sản khoa lớn (đặc biệt là hiện tượng chậm sinh). Vậy phải làm thế nào để nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò sữa cũng như tăng hiệu quả về kinh tế, phát huy tối đa tiềm năng sinh học của chúng, tăng nhanh, tăng mạnh về cả số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Xuất phát từ thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS.
Đỗ Thị Lan Phương, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:“Thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc ,nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn bò sữa nuôi tại trại bò sữa Công ty Hồ Toản, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá được được tình hình chăn nuôi bò tại Công ty Hồ Toản, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. - Thực hiện được quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn bò sữa nuôi tại Công ty.
- Đánh giá được được công tác phòng tác phòng bệnh cho đàn bò sữa tại Công ty - Thực hiện được một số công tác khác trên đàn bò sữa tại Công ty 1. Yêu cầu - Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi bò nái sữa tại Công ty, đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất. - Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả cho đàn bò sữa vào thực tiễn chăn nuôi bò sữa tại Công ty - Chăm chỉ, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân. Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập * Vị trí địa lí Trang trại bò sữa của Công ty cổ phần Hồ Toản được xây dựng tại thôn 14, xã Mỹ Bằng (Yên Sơn). Thời gian hoàn thành và bắt đầu chăn nuô bò lấy ữa lấy sữa từ tháng 11 năm 2017. Dự án có tổng mức đầu tư 125 tỷ đồng.
Huyện Yên Sơn có vị trí như sau: huyện Yên Sơn nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh Tuyên Quang. + Phía Đông giáp các huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn). + Phía Tây giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Yên Bình (tỉnh Yên Bái). + Phía Nam giáp huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ), huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) + Phía Bắc giáp huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang).
- Toàn huyện có 28 đơn vị hành chính cấp xã.Ttổng diện tích tự nhiên 1060,70 km2. * Khí hậu Huyện Yên Sơn nằm trong vùng núi đông bắc chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm ở trạm khí tượng Tuyên Quang cho thấy: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 230C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,60C. Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm).
Lượng mưa các Luan van 4 tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6mm). Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 200C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,80C; Lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm * Địa hình - Địa hình Yên Sơn hình thành ba vùng rõ nét. + Vùng thượng huyện (phía đông và đông bắc) là những dãy núi đá có độ cao trung bình khoảng 600 m so với mặt biển. + Vùng trung và hạ huyện là những dãy đồi bát úp, đất đai màu mỡ, thích hợp cho cây công nghiệp như chè, cà phê, hoa màu và chăn nuôi gia súc.
+ Phía tây huyện là nơi có những cánh đồng rộng phì nhiêu như Hoàng Khai, Mỹ Bằng, Lang Quán. thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp và chăn nuôi. Ôm lấy những cánh đồng này là dãy núi Là đồ sộ (có đỉnh cao hơn 900m so với mặt nước biển), núi Quạt, núi Nghiêm * Giao thông, thủy lợi - Có 4 con sông Chảy qua địa bàn Yên Sơn: sông Lô, sông Gâm, sông Chảy ở phía Tây và Tây bắc, sông Phó Đáy ở phía Đông cùng mạng lưới suối, ngòi dày đặc. Sông suối của huyện nhiều thác gềnh, thường có lũ trong mùa mưa, tuy gây một số khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội song cũng có những tiềm năng, giá trị về mặt kinh tế.
Ngoài cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất, sông suối còn cung cấp nguồn thủy sản khá phong phú, có giá trị kinh tế cao phục vụ đời sống nhân dân, đồng thời là đường giao thông quan trọng giữa các vùng và tiềm năng phát triển thuỷ điện, du lịch. - Mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa miền núi với vùng trung du và đồng bằng. Từ Yên Sơn có thể xuôi về Hà Nội, ngược lên Hà Giang trên quốc lộ Luan van 5 số 2, sang Thái Nguyên và Yên Bái trên quốc lộ 13A (nay là quốc lộ 37). Cũng có thể cơ động bằng đường thủy đến các tỉnh lân cận như Phú Thọ, Hà Giang.
tương đối thuận tiện, đặc biệt là vận chuyển tre, nứa, gỗ. Ngoài ra, Yên Sơn còn có nhiều đường liên xã, liên thôn, đường dân sinh nối các điểm dân cư, các vùng kinh tế với nhau. - Diện tích đất nông nghiệp của huyện khá lớn và màu mỡ, thích hợp với việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp. Bên cạnh đó, huyện còn có thảm thực vật phong phú để phát triển chăn nuôi đại gia súc.
Ngoài nguồn tài nguyên chính là rừng, Yên Sơn còn có các loại khoáng sản: sắt, chì, kẽm, vàng, barít… - Là địa bàn bao quanh thành phố Tuyên Quang, huyện Yên Sơn luôn gắn bó chặt chẽ với thành phố trên nhiều phương diện và có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Ngoài những lợi thế về đất đai, nguồn nhân lực, khoáng sản. để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, huyện có những cảnh đẹp như núi Nghiêm, các di tích lịch sử cách mạng: ATK Kim Quan, Bình Ca, Làng Ngòi - Đá Bàn, Km7, Khe Lau. các đền, chùa, đình.
mở ra khả năng phát triển du lịch, thu hút khách tham quan khi đến Tuyên Quang. Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của Công ty 2.Cơ cấu tổ chức của Công ty Trang trại bò sữa là trang trại của Công ty Cổ phần Hồ Toản, hiện đang quản lý khoảng hơn 1. Trang trại gồm 66 người: - 01 Tổng giám đốc - 01 Quản lý trại - 06 Kỹ thuật chính của Công ty, gồm: + 01 Kỹ sư dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi + 05 Bác sỹ thú y Luan van 6 - 05 Thợ cơ điện - 04 Kế toán - 01 Thư ký - 01 Kiểm tra sữa - 44 Công nhân - 03 Bảo vệ 2. Cơ sở vật chất của Công ty - Trung tâm được chia thành 7 khu vực chăn nuôi riêng biệt có tên chuồng 1, chuồng 2, chuồng 3, chuồng 4, chuồng 5, chuồng 6, chuồng 8 - Chuồng 1, chuồng 2 để chăm sóc và nuôi dưỡng bò vắt sữa.
Diện tích xây dựng gồm: 2 chuồng, chiều dài của 1 chuồng là chiều dài 96 m, rộng 27 m, mỗi chuồng chia thành 2 dãy (có đường đi ở giữa). Mỗi dãy đều có sân cát, mỗi chuồng có một sân chơi nền đất. - Chuồng 3, chuồng 4, chuồng 5, chuồng 8 để chăm sóc và nuôi dưỡng bò cạn sữa, bò chờ đẻ và bê non ăn sữa. Diện tích xây dựng gồm: chuồng 3 có diện tich là: 96 m, rộng 27 m, mỗi chuồng chia thành 2 dãy (có đường đi ở giữa).
Chuồng 4, chuồng 5, chuồng 8 có diện tích xây dựng là: chiều dài 32 m, chiều rộng 20 m, mỗi chuồng chia thành 2 dãy (có đường đi ở giữa). -1 nhà máy sản xuất thức ăn tổng hợp cho bò sữa có diện tích là 100m2 (bao gồm cả khu vực ủ chua ) -1 nhà máy vắt sữa gồm 2 giàn vắt sữa công nghệ cao, mỗi dàn vắt được 16 con bò sữa. Ngoài ra còn có 2 xi tec bảo quản sữa sau khi vắt có dung tích chứa 4 tấn sữa. - Trong trang trại có nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn và các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của Trang trại.
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. Luan van 7 - Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước máy.