Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,5%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 10% năm 2000 xuống còn 7% năm 2005. Nghị quyết Đại hội IX đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để thực hiện mục tiêu này, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm. Tuy nhiên, sự phát triển giữa các vùng miền còn chênh lệch lớn; điều kiện y tế, phúc lợi xã hội và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo còn nhiều bất cập, chịu ảnh hưởng bởi mức sinh cao, phong tục tập quán lạc hậu và khó khăn trong tiếp cận dịch vụ.

Huyện đảo Bạch Long Vỹ trực thuộc thành phố Hải Phòng, được thành lập theo Nghị định số 15/NĐ-CP/1992 của Chính phủ, là đảo xa bờ nhất trong các đảo phía Bắc (nằm giữa vịnh Bắc Bộ, cách đất liền 132 hải lý, diện tích nổi hơn 2 km²). Do khoảng cách địa lý và điều kiện thời tiết khắc nghiệt, công tác dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tại đây gặp nhiều thách thức. Nhằm nhận diện thực trạng và tìm kiếm giải pháp cải thiện, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài "Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo Bạch Long Vỹ - Hải Phòng".

Mục tiêu cụ thể của cuộc nghiên cứu gồm ba nội dung:

  1. Tìm hiểu thực trạng mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo hiện nay; từ nhận thức đó họ hành động ra sao và thực trạng hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản liên quan như thế nào tới sức khỏe sinh sản của họ.
  2. Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo, nguyện vọng đối với công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở địa phương và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
  3. Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị phù hợp giúp nâng cao nhận thức, làm thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản theo hướng tích cực, tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cũng như chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ huyện đảo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ.
  • Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã kết hôn và chưa kết hôn.
  • Phạm vi không gian: Huyện đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 01/2008 đến tháng 05/2008.
  • Giới hạn nội dung nghiên cứu: Khóa luận giới hạn nghiên cứu ở một số khía cạnh cơ bản bao gồm: nhận thức về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản; nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai; tình hình chăm sóc thai nghén và sinh đẻ; tình hình trẻ em chết chu sinh; tình hình nạo phá thai và nhiễm khuẩn đường sinh sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, văn bản quy phạm và lý thuyết xã hội học chuyên ngành:

  • Hệ thống khái niệm công cụ:
    • Sức khỏe: Khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh (lành mạnh cả thể xác lẫn tinh thần), định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 (tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, không bó hẹp ở việc không có bệnh hay thương tật).
    • Sức khỏe sinh sản: Định nghĩa tại Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo năm 1994, bao gồm 10 nội dung trọng tâm: Làm mẹ an toàn; Kế hoạch hóa gia đình; Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; Các bệnh lây qua đường tình dục; Giáo dục tình dục; Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh sản; Sức khỏe vị thành niên; Giáo dục, truyền thông về sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình.
    • Chăm sóc sức khỏe và chăm sóc sức khỏe sinh sản: Khái niệm chăm sóc sức khỏe ban đầu của Hội nghị Alma-Ata năm 1978 và Chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế (quy định về làm mẹ an toàn, 10 quyền cơ bản của khách hàng trong kế hoạch hóa gia đình, kiểm soát nhiễm khuẩn, dịch vụ vị thành niên và phá thai an toàn).
  • Khung lý thuyết xã hội học:
    • Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber: Phân loại 4 hành vi xã hội (hành động duy lý - công cụ, hành động duy lý - giá trị, hành động duy cảm, hành động duy lý theo truyền thống) nhằm phân tích động cơ, nhận thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản dưới tác động của điều kiện kinh tế - xã hội và tập quán.
    • Lý thuyết giới (Thuyết nữ quyền cấp tiến): Phân tích hệ thống nam trị, vai trò giới, quan hệ tái sản xuất, tính dục và sự tham gia, chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
  • Văn bản chính sách, pháp luật áp dụng: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989; Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010; Nghị quyết số 21-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng; Nghị quyết số 17/2006/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng; Quyết định số 2793/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Phương pháp nghiên cứu gồm:

  • Phương pháp luận: Vận dụng nguyên lý của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (xem xét hiện tượng trong mối liên hệ tương tác toàn diện với bối cảnh kinh tế - xã hội) và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (đặt hiện tượng trong giai đoạn lịch sử cụ thể của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa).
  • Phương pháp thu thập thông tin:
    • Phân tích tài liệu: Khai thác báo cáo tổng kết của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Bạch Long Vĩ; số liệu báo cáo của Trung tâm Y tế huyện; số liệu thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện trong 03 năm (2005 - 2007); các ấn phẩm của Tạp chí Xã hội học, Tạp chí Dân số và Phát triển.
    • Phương pháp quan sát: Tri giác trực tiếp địa bàn huyện đảo, hoạt động sinh hoạt và lao động của phụ nữ tại Làng Thanh niên xung phong và khu vực âu cảng.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Sử dụng đề cương chi tiết thực hiện phỏng vấn 30 người, gồm cán bộ chủ chốt các ngành văn hóa, y tế, giáo dục, các đoàn thể xã hội và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của đề tài:

  • Nhận thức và hành vi của phụ nữ huyện đảo hiện nay về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản có hơn trước nhưng còn sơ sài, chưa đầy đủ.
  • Có sự khác biệt về mức độ nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản giữa các nhóm xã hội.
  • Các yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế, phong tục, tập quán có ảnh hưởng lớn tới hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chăm sóc sức khỏe sinh sản

Chương I tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về sức khỏe sinh sản, trình bày hệ thống khái niệm công cụ, các lý thuyết xã hội học ứng dụng, đồng thời phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội và dân số tại địa bàn nghiên cứu.

Về tổ chức hành chính và kinh tế - xã hội tại huyện đảo Bạch Long Vỹ: Huyện không phân cấp thành các xã mà quản lý trực tiếp 04 khu dân cư và các đơn vị trực thuộc; Đảng bộ huyện có 120 đảng viên sinh hoạt tại 11 chi bộ và 01 đảng bộ cơ sở; bộ máy chuyên môn gồm 07 phòng ban. Về cơ sở hạ tầng, sau 15 năm thành lập, tổng vốn đầu tư đạt trên 400 tỷ đồng, xây dựng gần 20 km đường giao thông trải nhựa và bê tông, trạm điện gió - diesel công suất 800 KVA, trường tiểu học 2 tầng, trạm y tế, cảng và khu neo đậu tàu rộng 30,9 ha (đáp ứng trên 300 tàu tránh bão, đón tàu 400 tấn, bình quân 20.000 lượt tàu thuyền qua lại hàng năm). Kinh tế dịch vụ chiếm 71% giá trị sản xuất toàn huyện, tập trung vào dịch vụ hậu cần nghề cá.

Về cơ cấu dân cư, số liệu từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em huyện phản ánh sự chênh lệch lớn về giới tính do đặc thù lực lượng vũ trang đóng quân:

Nhóm đối tượng Tổng số (người) Độ tuổi 1 - 14 Trong độ tuổi lao động / sinh đẻ Độ tuổi 45 - 54
Nam 3.344 168 3.176 —
Nữ 516 184 325 07
Toàn huyện 3.860 352 3.501 07

Đặc điểm dân số không có người cao tuổi, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 325 người. Về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình những năm trước đây, toàn quốc ghi nhận tỷ lệ hiểu biết về biện pháp tránh thai hiện đại đạt 99,5%, tỷ lệ sử dụng tăng từ 61% (năm 2001) lên 67% (năm 2006 theo điều tra biến động dân số ngày 01/04/2006). Tại địa phương, các chỉ tiêu theo Nghị quyết 17/2006/NQ-HĐND thành phố Hải Phòng đặt ra cho giai đoạn 2006 - 2010 gồm: giảm tỷ suất sinh hàng năm từ 0,05% - 0,15%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1%; 80% cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 3% - 5% ca nạo phá thai; tử vong mẹ dưới 50/100.000 trẻ sinh sống; 90% - 100% thanh niên trước kết hôn được trang bị kiến thức.

Chương II: Một số yếu tố tác động đến chăm sóc sức khỏe sinh sản ở huyện đảo Bạch Long Vỹ

Chương II đi sâu phân tích thực trạng nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo qua các khía cạnh:

  1. Trình độ học vấn và nhận thức về sức khỏe sinh sản: Khảo sát trên tổng số 325 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy mặt bằng học vấn còn thấp, là rào cản trực tiếp đến nhận thức y tế:
Trình độ học vấn Số người Tỷ lệ (%)
Mù chữ 0 0,0%
Tiểu học 219 67,4%
Trung học cơ sở 57 17,5%
Trung học phổ thông 32 9,84%
Trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng 12 3,6%
Đại học - Sau đại học 05 1,5%
Tổng cộng 325 100,0%

Đa số phụ nữ quan niệm đơn giản về sức khỏe là "không ốm đau bệnh tật". Khi được hỏi về 10 nội dung của sức khỏe sinh sản, phần lớn chị em chỉ nhận biết các nội dung quen thuộc qua tuyên truyền như kế hoạch hóa gia đình, làm mẹ an toàn, nạo hút thai, nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây qua đường tình dục; các nội dung về vô sinh, ung thư vú, ung thư đường sinh sản và giáo dục tình dục hầu như chưa được hiểu đúng.

  1. Tình hình chăm sóc thai nghén và sinh đẻ:
  • Khám thai: Theo quy định y tế, thai phụ cần khám thai tối thiểu 3 lần vào 3 giai đoạn thai kỳ. Thực tế khám thai trước sinh năm 2007 tại huyện đảo như sau:
Số lần khám thai Tỷ lệ (%)
01 lần 30%
02 - 03 lần 34%
Trên 04 lần 4%
Tổng tỷ lệ có khám thai 68%

Có 32% phụ nữ không đi khám thai lần nào trong thai kỳ. Đa số các trường hợp có khám thai chỉ đi khám lần đầu khi thai đã được 7 tháng tuổi. Lý do phụ nữ đưa ra gồm: e ngại khám, chủ quan thấy cơ thể khỏe mạnh, bận lao động và chi phí đi lại vào đất liền tốn kém (mỗi lần về đất liền tốn vài triệu đồng tiền tàu xe, thuê nhà trọ, nguy cơ say sóng).

  • Tiêm phòng uốn ván: Báo cáo y tế ghi nhận 100% phụ nữ mang thai được tiêm phòng, nhưng điều tra thực tế cho thấy con số này chỉ đúng với nhóm định cư trên đảo; nhóm phụ nữ làm nghề trên các tàu thuyền tại khu vực âu cảng hầu như chưa được tiếp cận dịch vụ do lịch trình đi biển đêm (3 - 4 giờ sáng mới cập bến) và Trung tâm Y tế thiếu nhân lực, phương tiện tiếp cận.
  • Địa điểm sinh đẻ: Tỷ lệ sinh đẻ tại cơ sở y tế có cán bộ chuyên môn đỡ đạt 100%. Tuy nhiên, trong 3 năm, chỉ có 02 trường hợp sinh tại Trung tâm Y tế huyện; toàn bộ các ca còn lại đều phải di chuyển về đất liền trước khi sinh. Nguyên nhân do Trung tâm Y tế huyện không có bác sĩ chuyên khoa sản (chỉ có 01 nữ hộ sinh trình độ trung cấp), thiếu trang thiết bị cấp cứu và hoàn toàn không có máu dự trữ để xử lý băng huyết hay tai biến sản khoa.
  • Nghỉ ngơi trước và sau sinh: 2/3 phụ nữ ở khu vực âu cảng không được nghỉ ngơi ngày nào trước khi sinh, phải làm việc nặng nhọc trên biển đến sát ngày chuyển dạ; chỉ 1/3 được nghỉ 1 - 2 tháng do sức khỏe quá yếu. Nhóm phụ nữ công chức trên đảo được nghỉ trước sinh 2 tháng, phụ nữ cư dân định cư nghỉ từ 15 ngày đến 1 tháng. Về sau sinh, 100% phụ nữ được nghỉ ngơi dưỡng sức đủ cữ (khoảng 3 tháng). Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đạt 100% nhưng lịch tiêm thường bị gián đoạn do phương tiện tàu biển vận chuyển vaccine phụ thuộc vào thời tiết.
  1. Tình hình nạo phá thai: Số ca nạo hút thai thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện ghi nhận xu hướng tăng:
Năm 2005 2006 2007
Số ca nạo, hút thai 24 28 45

Trung tâm Y tế huyện chỉ được phép làm thủ thuật hút điều hòa kinh nguyệt đối với trường hợp chậm kinh dưới 14 ngày (thai dưới 2 tuần tuổi); các trường hợp thai lớn hơn phải chuyển tuyến về đất liền. Khảo sát tại Làng Thanh niên xung phong trên 45 hộ gia đình phát hiện có 23 hộ (51%) sinh con một bề là gái, có nguyện vọng sinh thêm con nhưng chịu ràng buộc quy định đơn vị nên chỉ áp dụng biện pháp tránh thai tạm thời, dẫn đến nguy cơ vỡ kế hoạch và nạo hút thai cao.

  1. Nhiễm khuẩn đường sinh sản: Tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh viêm nhiễm phụ khoa ở mức cao: 68% trên toàn huyện, cá biệt nhóm phụ nữ khu vực âu cảng tỷ lệ viêm nhiễm lên tới 80%. Nguyên nhân trực tiếp là do điều kiện vệ sinh kém, không gian sinh hoạt trên tàu thuyền chật hẹp, thiếu nước ngọt sinh hoạt và phải dùng nguồn nước giếng khoan chưa xử lý. Cơ cấu bệnh phụ khoa ghi nhận năm 2006 gồm:
Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản Tỷ lệ (%)
Trùng roi âm đạo 50%
Nấm Candida 30%
Nhiễm tạp khuẩn 20%
Tổng cộng 100%
  1. Trẻ em chết chu sinh: Khóa luận tiếp cận khái niệm chết chu sinh (trường hợp thai chết từ tròn 28 tuần tuổi đến 7 ngày sau sinh) như một chỉ báo phản ánh trình độ chăm sóc y tế và điều kiện kinh tế - xã hội của từng nhóm cư dân huyện đảo.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với số liệu thực tế tại huyện đảo Bạch Long Vỹ:

  • Xác lập bức tranh thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản mang tính phân tầng rõ rệt: Nhóm phụ nữ cán bộ, công chức định cư trên đảo có điều kiện sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe tương đối bảo đảm; ngược lại, nhóm phụ nữ ngư dân sống tại khu vực âu cảng chịu thiệt thòi lớn khi 80% mắc bệnh phụ khoa, 2/3 không được nghỉ ngơi trước sinh và hầu như nằm ngoài phạm vi tiếp cận tiêm phòng uốn ván định kỳ.
  • Chỉ rõ những đứt gãy giữa chỉ tiêu báo cáo và thực tiễn: Báo cáo tỷ lệ tiêm phòng uốn ván và sinh con tại cơ sở y tế đạt 100%, song thực chất Trung tâm Y tế huyện chỉ thực hiện đỡ đẻ 02 ca trong suốt 3 năm, còn lại phụ nữ phải vượt 132 hải lý vào đất liền do cơ sở thiếu bác sĩ sản khoa và thiếu máu truyền cấp cứu; tỷ lệ khám thai trước sinh chỉ đạt 68% (30% khám 1 lần, 34% khám 2 - 3 lần, 4% khám từ 4 lần trở lên).
  • Nhận diện rào cản nạo phá thai gia tăng: Số ca nạo hút thai tại chỗ tăng từ 24 ca (năm 2005) lên 45 ca (năm 2007), xuất phát từ nhận thức tránh thai chưa đúng cách, sự thiếu hụt phương tiện tránh thai đa dạng và áp lực muốn có con trai (chiếm 51% tại Làng Thanh niên xung phong).

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Ngành y tế thành phố cần có chính sách đặc thù nhằm điều động, luân chuyển bác sĩ chuyên khoa sản ra công tác định kỳ tại đảo, đầu tư phương tiện cấp cứu sản khoa và cơ số máu dự phòng tại chỗ.
  • Trung tâm Y tế huyện cần trang bị phương tiện lưu động tiếp cận nhóm phụ nữ tại khu vực âu cảng; bố trí lịch tiêm chủng, tư vấn và cung cấp phương tiện tránh thai phù hợp với khung giờ lao động biển của ngư dân.
  • Cải thiện công trình hạ tầng cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường tại âu cảng nhằm giải quyết căn nguyên gây nhiễm trùng roi (50%) và nấm Candida (30%).
  • Đổi mới công tác truyền thông dân số: Mở rộng nội dung tuyên truyền ngoài kế hoạch hóa gia đình sang các vấn đề phát hiện sớm ung thư sinh sản, vô sinh và nâng cao trách nhiệm chia sẻ của nam giới theo quan điểm bình đẳng giới.

Về mặt học thuật, nghiên cứu đóng góp nguồn dữ liệu định tính và định lượng thực chứng tại một địa bàn hải đảo đặc thù, kiểm chứng tính phù hợp của lý thuyết hành động xã hội (Max Weber) và lý thuyết giới trong phân tích hành vi sức khỏe tại cộng đồng biển đảo biệt lập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế xuất phát từ điều kiện nghiên cứu:

  • Thời gian khảo sát thực địa ngắn (5 tháng, từ tháng 01/2008 đến tháng 05/2008), gây khó khăn trong việc quan sát biến động dịch tễ theo mùa vụ đi biển.
  • Quy mô mẫu nghiên cứu định tính gồm 30 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, chưa tiến hành điều tra bảng hỏi diện rộng trên toàn bộ 325 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
  • Phạm vi nội dung mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh cơ bản (khám thai, sinh đẻ, nạo phá thai, bệnh phụ khoa), chưa đi sâu phân tích toàn diện khía cạnh sức khỏe sinh sản vị thành niên, bệnh lây truyền qua đường tình dục phức tạp và số liệu dịch tễ cụ thể về tử vong chu sinh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần:

  • Mở rộng khảo sát định lượng kết hợp lâm sàng về sức khỏe phụ khoa cho phụ nữ các đội tàu cá vãng lai tại khu vực âu cảng.
  • Theo dõi dịch tễ học dài hạn về sức khỏe thai sản và chỉ số chết chu sinh trong mối tương quan với các chính sách đầu tư y tế biển đảo mới.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Xã hội học (Xã hội học y tế, Xã hội học giới, Xã hội học dân số), Y tế công cộng, Quản lý xã hội và Công tác xã hội khi tìm kiếm tài liệu thực chứng về sức khỏe cộng đồng tại vùng hải đảo xa bờ.
  • Các nhà hoạch định chính sách dân số và y tế địa phương trong việc xây dựng cơ chế thu hút nhân lực y tế chuyên khoa ra công tác tại huyện đảo.
  • Cán bộ làm công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình tham khảo mô hình phân hóa hành vi theo nhóm cư dân (dân cư trên đảo so với dân cư sinh sống dưới âu cảng) để thiết kế chương trình can thiệp phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu dân số huyện đảo Bạch Long Vỹ tại thời điểm nghiên cứu có điểm gì đặc biệt tác động đến công tác sức khỏe sinh sản?
Toàn huyện có 3.860 nhân khẩu nhưng có sự mất cân đối nghiêm trọng về giới: nam giới chiếm 3.344 người (chủ yếu là lực lượng vũ trang và cán bộ các ngành), nữ giới chỉ có 516 người (trong đó 325 phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, 184 trẻ em gái 1 - 14 tuổi và 07 phụ nữ 45 - 54 tuổi). Huyện không có người cao tuổi, dân số biến động theo thời điểm và phương tiện tàu thuyền.

2. Tại sao 100% phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế nhưng chỉ có 02 ca sinh tại Trung tâm Y tế huyện trong suốt 3 năm?
Trung tâm Y tế huyện thiếu bác sĩ chuyên khoa sản (chỉ có 01 nữ hộ sinh trung cấp), không đủ phương tiện cấp cứu và không có máu dự trữ để xử lý tai biến sản khoa như băng huyết. Do đó, nhân viên y tế chủ động tư vấn và thai phụ chủ động vượt 132 hải lý về đất liền để sinh con nhằm đảm bảo an toàn tính mạng.

3. Tỷ lệ khám thai định kỳ của phụ nữ huyện đảo năm 2007 đạt mức nào?
Tổng tỷ lệ có khám thai trước sinh đạt 68% (30% khám 1 lần, 34% khám 2 - 3 lần, 4% khám từ 4 lần trở lên) và còn 32% không khám lần nào. Đa số thai phụ khám lần đầu tiên rất muộn, khi thai đã được 7 tháng tuổi, do khó khăn trong di chuyển và tốn kém chi phí lưu trú ở đất liền.

4. Nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa ở khu vực âu cảng lên tới 80% là gì?
Phụ nữ khu vực âu cảng sinh sống trực tiếp trên các tàu thuyền chật hẹp, điều kiện vệ sinh môi trường kém, thiếu nguồn nước ngọt sinh hoạt và chủ yếu sử dụng nước giếng khoan chưa qua xử lý. Cơ cấu bệnh phụ khoa phổ biến toàn huyện gồm trùng roi âm đạo (50%), nấm Candida (30%) và nhiễm tạp khuẩn (20%).

5. Thực trạng nạo phá thai tại Làng Thanh niên xung phong được ghi nhận như thế nào?
Quan sát trên 45 hộ gia đình tại Làng Thanh niên xung phong cho thấy có 23 hộ (51%) sinh con một bề là gái. Do mong muốn sinh thêm con nhưng chịu ràng buộc kỷ luật của đơn vị, các cặp vợ chồng chỉ dùng biện pháp tránh thai tạm thời dẫn đến tỷ lệ vỡ kế hoạch cao và làm gia tăng số ca nạo hút thai.

Kết luận

Khóa luận đã phản ánh trung thực thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo Bạch Long Vỹ năm 2008 thông qua các chỉ báo về học vấn, nhận thức, khám thai, sinh đẻ, nạo phá thai và nhiễm khuẩn đường sinh sản. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự chênh lệch lớn về mức độ thụ hưởng dịch vụ y tế giữa nhóm phụ nữ sống trên đảo và nhóm phụ nữ lao động tại âu cảng, đồng thời chỉ ra khoảng trống nghiêm trọng về nhân lực bác sĩ sản khoa và điều kiện cấp cứu tại chỗ. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cho công tác quy hoạch mạng lưới y tế và chính sách an sinh xã hội tại các vùng biển đảo tiền tiêu của đất nước.