CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản, được tiến hành rất sớm trên thế giới, chủ yếu ở các quốc gia phát triển như Mỹ và châu Âu. Ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Đông, đặc biệt là Nho giáo cho nên các vấn đề về sinh sản, tình dục, quan hệ nam nữ ít được đề cập.
Vì vậy, nghiên cứu về sức khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiên cứu ở nước ta. Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960, nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội. Chính phủ Việt Nam đã luôn dành sự quan tâm thích đáng cho công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình. Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt “ Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước”, vấn đề này được coi như một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.
Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình đã huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và tranh thủ được sự giúp đỡ ngày càng tăng và có hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Bằng những giải pháp hữu hiệu, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục được mở rộng và từng bước nâng cao chất lượng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chú trọng đến các vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, do đó nhận thức của các tầng lớp nhân dân về kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản ngày càng được nâng cao, tỷ lệ giảm sinh rất nhanh. Tuy nhiên, những mục tiêu của chương trình Dân số- kế hoạch hóa gia đình mới chỉ chú trọng về số lượng như giảm tỷ lệ sinh, tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ( chỉ tập trung vào phụ nữ và biện pháp đặt vòng) mà chưa chú trọng vào chất lượng dân số. Vấn đề giáo dục tình dục, tư vấn kế hoạch hóa gia đình chưa được tập trung và đầu tư đúng mức, kỹ năng tư vấn còn đơn giản.
Vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên chưa được chú ý quan tâm đúng mức. Do lối sống truyền thống của người Á Đông và do nhận thức chưa đầy đủ về quy mô gia đình nhỏ, đồng thời cũng do chưa tuyên truyền, phổ biến rộng khắp về tác dụng, tính ưu việt của các biện pháp tránh thai hiện đại như là một phương pháp kế hoạch hóa gia đình. Do đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai cao nhất thế giới. Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nhiễm khuẩn HIV/AIDS còn nhiều tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe bà mẹ trẻ em.
Điều đáng lo ngại hiện nay là tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên ngày một phổ biến, tình hình nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ngày càng tăng… Ngoài những vấn đề nêu trên, vấn đề sức khỏe sinh sản ở Việt nam còn phải đối mặt với vấn đề vô sinh, ung thư vú và ung thư đường sinh sản. Những vấn đề đó cần được các cơ sở y tế quan tâm tạo điều kiện chăm sóc tốt hơn nhằm nâng cao sức khỏe cho phụ nữ. Trong " Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001- 2010" đã đánh giá về tình hình sức khỏe sinh sản, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản và đưa ra quan điểm, mục tiêu đó là: - Đầu tư cho sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản cũng là đầu tư cho phát triển. - Đảm bảo sự công bằng, làm cho mọi người đều được tiếp cận với các thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia đình có chất lượng, phù hợp với điều kiện kinh tế của xã hội, đặc biệt chú ý các đối tượng bị thiệt thòi, người nghèo, người có công với nước, các vùng sâu, vùng xa và vùng có nguy cơ cao về môi trường.
- Thực hiện bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, tăng cường vai trò của ngừơi phụ nữ trong quá trình ra quyết định về các vấn đề có liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, đề cao vai trò và trách nhiệm của nam giới trong việc chia sẻ với phụ nữ thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản. - Dự phòng tích cực và chủ động trong mọi khâu của chăm sóc sức khỏe sinh sản. - Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc trong chăm sóc sức khỏe sinh sản. - Chăm sóc sức khỏe sinh sản là sự nghiệp chung của toàn xã hội, là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, của các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng như của các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và nghề nghiệp.
Với mục tiêu chung là: Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản ứng với các giai đoạn của cuộc sống và phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở các địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn. Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản từ trước tới nay luôn được mọi người quan tâm và coi đó là một việc làm cần thiết. Bởi lẽ, sức khỏe của nhân dân nói chung, người phụ nữ nói riêng là hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng tới mọi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, con người lại liên quan chặt chẽ với môi trường.
Một môi trường lành mạnh, trong sạch là rất cần thiết cho sức khỏe và hạnh phúc của con người. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong mối quan hệ với môi trường và sự phát triển. Phụ nữ không chỉ là người sản xuất ra của cải vật chất của xã hội mà còn là người duy trì cuộc sống của gia đình và xã hội, đồng thời họ còn là những người phải chịu hậu quả của sự suy thoái môi trường và do đó, họ là những thành viên không thể thiếu trong việc quản lý môi trường. Phụ nữ có vai trò là tác nhân quan trọng để đạt được sự phát triển bền vững, nhất là trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Chính vì lẽ đó, các tác giả của cuốn sách “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” (Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển) do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2001 đã tập trung nghiên cứu vào vấn đề mối liên quan điều kiện, môi trường làm việc với sức khỏe lao động nữ, đặc biệt quan tâm nghiên cứu sức khỏe sinh sản của phụ nữ, nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi phòng ngừa bảo vệ sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng của phụ nữ. Một công trình nghiên cứu đáng chú ý là “ Phân tích tình hình phụ nữ và trẻ em của UNICEP” đã phản ánh tình hình kinh tế- xã hội của Việt Nam có ảnh hưởng đến hệ thống chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe của phụ nữ và trẻ em việt Nam. Tại Hội nghị Dân số thế giới Cairo (Ai cập) và hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ tư được tổ chức ở Bắc kinh (Trung quốc) các đại biểu của nhiều quốc gia đã nhất trí cho rằng bình đẳng giới và vấn đề sức khỏe sinh sản của phụ nữ có mối liên quan mật thiết với nhau. Đây là một trong những vấn đề then chốt để đánh giá những tiến bộ của từng nước đối với vấn đề phụ nữ.
Ở Việt Nam, vấn đề này chưa có một nghiên cứu chuyên biệt, các chương trình về kế hoạch hóa gia đình người phụ nữ luôn luôn bị coi là đối tượng chính của công tác này. Vì thế, các số liệu thống kê về công tác kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam đã nảy sinh hàng loạt vấn đề liên quan tới sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Với những nội dung trên đã gợi mở hướng nghiên cứu thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo Bạch Long Vĩ- Hải Phòng, và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của họ. Như vậy, kết quả nghiên cứu đề tài này đối với một huyện đảo cách xa đất liền là rất hữu ích và cần thiết.
Một số khái niệm công cụ 2.1 Khái niệm về sức khỏe- sức khỏe sinh sản. * Khái niệm về sức khỏe: Từ xưa tới nay người ta thường quan niệm rằng sức khỏe có nghĩa là cơ thể không có bệnh tật và ngành Ytế là ngành chuyên chữa bệnh. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe bao gồm sự lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Người định nghĩa “ ngày nào cũng tập thể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”.
Từ khi tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhấn mạnh đến khái niệm sức khỏe và đã đưa ra một định nghĩa về sức khỏe là “ một trạng thái thoải mái, đầy đủ về thể chất, tâm thần và xã hội, sức khỏe không bó hẹp vào nghĩa không có bệnh hay thương tật”. Khái niệm này được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người, ảnh hưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi giống của xã hội. Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng xuất cao, ngược lại sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó là khái niệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng nhất định.
Mỗi cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết để hành động và ứng xử hợp lý, tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình.