Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU Nghiên cứu về di cư ờ Việt Nam đã được thực hiện trong 10 năm trở lại đây với nhiều chiều cạnh và mục đích khác nhau. Trong nghiên cứu di cư, điều quan trọng là phải xác định rõ khái niệm di cư cũng như đánh giá được tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan với những kết quả nghiên cứu mới nhất được cập nhật. Đó chính là nội dung chủ yếu của chưcmg này. Di cư Khác với các quá trình dân số khác như sinh đẻ và tử vong, di cư về bản chất không phải là hiện tượng sinh học.
Di cư có thể diễn ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong một đời người, trong khi đó sinh đẻ và tử vong chi diễn ra một lần. Đây là sự khác nhau căn bản giữa các quá trình dân số này. Hơn nữa, với đặc trưng kinh tế - xã hội, di cư không phải là hiện tượng dễ đo lường, nhận biết. Do đó, khái niệm về di cư thường khác nhau giữa các công trình nghiên cứu và không nhất thiết phải thống nhất theo một định nghĩa nhất định giữa các dự án hay công trình nghiên cứu.1 Khái niệm di cư Từ điển đa ngữ của Liên hợp quốc định nghĩa "di dân" hay "di cư" là hình thái di chuyển của con người trong một không gian và thời gian nhất định từ một đơn vị hành chính này đen một đơn vị hành chính khác, kèm theo đó là sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.
Khái niệm di cư nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một khoảng cách nhất định, vượt qua một địa giới hành chính, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú. Nói một cách khác, di cư bao gồm ít nhất hai điều kiện sau đây: 1/ Thay đổi nơi thường trú trong một thời gian nhất định 2/ Di chuyển vượt qua một địa giới hành chính xác định Cuộc Tổng điều tra dân số năm 1989 ở Việt Nam lấy ranh giới di cư là cấp huyện, cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999 lấy ranh giới di cư là cấp xã, và 7 thời gian di cư được xác định là từ 6 tháng trở lên. Điều tra Di cư Việt Nam 2004 xác định thời gian thay đổi nơi cư trú là 10 năm, và thu thập nhiều số liệu, thông tin chi tiết mà các cuộc Tổng Điều tra dân số trước đó không có điều kiện thu thập. Các hình thái di cư - Di cư nội địa và di cư quốc tế: Di cư nội địa hay di cư trong nước liên quan đến sự dịch chuyển nơi cư trú bên trong biên giới quốc gia.
Di cư quốc tế diễn ra vượt quá biên giới quốc gia. ° Di cư lao động và di chuyển lao động: hai khái niệm này liên quan đến sự di chuyển của nhóm dân số trong độ tuổi tích cực kinh tế. Di cư lao động chiếm số đông trong những hình thái di chuyển ở tất cả các nước, bao gồm cả Việt Nam. Di chuyển lao động cho biết sự dịch chuyển không gian của lực lượng lao động, cả trong nước lẫn quốc tế.
Khoảng cách giữa các điểm di chuyển có thể gần hoặc xa tuỳ theo mục đích và đặc điểm của người di cư. = Di cư có tổ chức: Di cư có tổ chức là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp tổ chức, chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội. Người di cư và gia đình được hồ trợ tạo điều kiện khi tự nguyện chuyển đến các vùng kinh tế mới, đến khu vực biên giới và hải đảo xa xôi. = Di cư tự do: Di cư tự do hay còn gọi là di cư tự phát tuy được thừa nhận song không được khuyến khích hay hỗ trợ.
Người di cư chịu trách nhiệm và tự trang trải các phí tổn di chuyển, tái định cư và lựa chọn nơi đến của mình. Hình thái di cư này do cá nhân hoặc gia đình quyết định, không theo kế hoạch và không có được sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền. Tuy có những hệ luỵ kinh tế- xã hội nhất định song di cư tự phát thể hiện sự năng động của người dân trong việc giải quyết khó khăn trong đời sống, tạo công ăn việc làm, thu nhập và mưu sinh cho bản thân và gia đình người thân ở quê hương. Xét trên phương 8 diện này, di dân tự phát có mặt tích cực, góp phần đóng góp cho tốc độ tăng trường kinh tế của đất nước.
- Di cư tạm thòi và di cư mùa vụ: là các loại hình di chuyển diễn ra thường xuyên hoặc không thường xuyên theo chu kỳ, trong đó di cư mùa vụ là trường hợp đặc biệt của di cư tạm thời. Thuật ngữ "mùa vụ" không nhất thiết mang nghĩa vụ mùa thu hoạch trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù khá đúng đổi với nhiều cư dân nông thôn. Thuật ngữ này còn hàm ý những hoạt động mùa vụ khác như mùa xây dựng hoặc mùa du lịch, lễ hội, bao gồm cả loại hình đi làm ăn xa rất phổ biến ở nông thôn hiện nay. “ Di cư con lắc: Đây là một trong nhiều hình thái di cư tạm thời có liên quan đến điều kiện công việc hoặc những lý do khác đòi hỏi người di chuyển phải xa nhà và ngủ qua đêm nhiều ngày ở nơi làm việc.
Quá trình này lặp đi lặp lại tương đối thường xuyên mặc dù họ không nhất thiết phải thay đổi nơi cư trú chính thức (thường trú). Di cư con lắc khác với việc đi đi về về hàng ngày đến nơi làm việc của những cán bộ công nhân viên thường thấy ở các đô thị lớn. Tình hình di cư trên thế giới Nội dung trong phần này điểm qua một so nét chính hiện nay về tình hình di cư trên thế giới nhằm có được bức tranh di cư nói chung. Dưới nhiều hình thức khác nhau, di cư đang diễn ra với quy mô ngày càng gia tăng trên nhiều khu vực và quốc gia của thế giới.
Neu như năm 1960 mới có khoảng 76 triệu người di cư trên toàn cầu thì trong năm 2000 con số đó lên tới 175 triệu người (tức là tăng gấp 2 lần). Hình thái di cư tập trung chủ yếu là di cư lao động, tị nạn và hoà hợp gia đình. Theo báo cáo của Tổ chức di dân Quốc tế (IOM), đầu năm 2005 trên toàn thế giới có từ 185 đến 192 triệu người di cư quốc tế. Đương nhiên, các con số này mới chỉ tính đến hình thái di cư quốc tế, chưa bao gồm di cư trong nước mặc dù số lượng người di cư nội địa còn lớn hơn nhiều.
9 Có thể nói, tổc độ di cư diễn ra nhanh hơn so với tốc độ gia tăng dân số toàn cầu. Cho đến nay dấu hiệu di cư quốc tế vẫn không hề có dấu hiệu giảm xuống, số liệu trong bảng dưới đây minh chứng cho nhận định này.1: Di cư quốc tế trên thế giới và các khu vực quan trọng: 1970 - 2000 Số di cư quốc tế (triệu người) Tỳ suất tăng hàng năm cùa di dân quốc tế (%) Tỳ lệ di dán Phân bố đi dân QT tính theo ỌT theo khu Các khu vực chính dân số (%) vực (%) 1970 1980 1990 2000 1970- 1980- 1990- 1970 2000 1970 2000 1980 1990 2000 Thế giới 81,5 99,8 154,0 174,9 2,0 4,3 1,3 2,2 2,9 100 100 Các nước phát triển 38,3 47,7 89,7 110,3 2,2 6,3 2,1 3,6 8,7 47,0 63,1 Các nước đang phát 35,2 44,5 59,3 80,8 2,3 2,9 3,0 4,3 8,3 43,2 46,2 triển không kể Liên xô cũ Các nước đang phát 43,2 52,1 64,3 64,6 1,8 2,1 0,0 1,6 1,3 53,0 36,9 triển Châu Phi 9,9 14,1 16,2 16,3 3,6 1,4 0,0 2,8 2,0 12,1 9,3 Châu Á (* †) 28,1 32,3 41,8 43,8 1,4 2,6 0,5 1,3 1,2 34,5 25,0 Châu Mỹ la tinh & 5,8 6,1 7,0 5,9 0,7 1,3 -1,7 2,0 1,1 7,1 3,4 Caribe Bẳc Mỹ 13,0 18,1 27,6 40,4 3,3 4,2 3,9 5,6 12,9 15,9 23,3 Châu Đại dương 3,0 3,8 4,8 5,8 2,1 2,3 2,1 15,6 18,8 3,7 3,3 Châu Âu 18,7 22,2 26,3 32,8 1,7 1,7 2,2 4,1 6,4 22,9 18,7 Liên xô cũ 3,1 3,3 30,3 29,5 0,5 22,3 -0,3 1,3 10,2 3,8 16,8 * Châu A, trừ Armenia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Taijikisstan, Turkmenistan và Uzbekistan † Trừ Belarus, Estonia, Latvia, Cộng hòa Moldova, Nga và Ukraina (Nguồn: Liên hợp quốc, Xu hướng di cư, 2003) 10 số liệu trên Bang 1.2 dưới đây cho thấy hầu hết ờ các châu lục trên thế giới, tỷ trọng di cư nữ đều tăng theo thời gian. Tính đến thời điểm năm 2000 nữ chiếm gần 49% trong tổng số người di cư (con số này là 47% vào năm 1970). Xu hướng “nữ hoá di cư” phản ánh nhu cầu sức lao động của phụ nữ và trẻ em ở nhiều quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ, sản xuất công nghiệp, kinh doanh buôn bán trong khu vực kinh tế phi kết cấu.2: Tỷ lệ nữ trong tổng số di cư quốc tế theo các khu vực: 1970 - 2000 1970 2000 Các khu vực chính (%) (%) Thế giới 47,2 48,6 Các nước phát triển 49,0 51,0 Các nước đang phát triển không kể Liên xô cũ 49,0 51,6 Các nước đang phát triển 45,7 44,6 Châu Phi 42,7 46,7 Châu Á (*) 46,6 43,3 Châu Mỹ la tinh & Caribe 46,8 50,2 Băc Mỹ 51,1 50,3 Châu Đại dưomg 46,5 50,5 Châu Âu 48,0 51,0 Liên xô cũ 48,0 52,1 ',7.
(Nguôn: Liên hợp quôc, Xu hương di cư, 2003) Trên cấp độ vĩ mô, có thể nhận xét ràng xu hướng di dân trên thế giới trong những thập kỷ qua diễn ra theo chiều hướng từ khu vực kém phát triển đến khu vực phát triển hom. Nếu như vào năm 1960 mới chỉ có 3 triệu người từ các nước đang phát triển vào các nước phát triển thì sau 35 năm con số này đã lên tới 56 triệu người. Di dân quốc tế diễn ra với cường độ lớn, dưới nhiều hình thức khác nhau theo hướng từ 11 châu Á và châu Mỹ La tinh đến Bắc Mỹ, từ châu Phi đến Tây Á, từ châu Á sang Trung đông, từ Nam và Đông Âu đen Bắc và Tây Âu. Xu hướng này phản ánh sự bất bình đẳng gia tăng trong bối cảnh toàn cầu hoá, cũng như sự dịch chuyển của các yếu tố sản xuất như lao động, công nghệ, thông tin, vốn đầu tư theo hướng xuyên quốc gia.
Di cư lao động đã vượt quá khuôn khổ biên giới quốc gia, trơ thành một ngành công nghiệp không khói đem lại thu nhập cao ở nhiều quốc gia như Philípin, Inđônêxia,.