Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CUU, CO SO LY THUYET VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về van đề SKSS ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ giữa thập niên 80 và tăng lên đáng ké vào những năm đầu thập niên 90 của thé ky XX. Dấu mốc quan trọng là những kết quả đạt được tại Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại thành phố Cairo (Ai Cập) (1994) đã góp phần mở rộng phạm vi nghiên cứu về SKSS tại nước ta. Trong đó, nhu cầu sức khỏe của phụ nữ được quan tâm đặc biệt, nhất là SKSS.
Với chủ đề nghiên cứu đặt ra, luận án thực hiện tổng quan các kết quả nghiên cứu liên quan đến hai nội dung chính: một là, các nghiên cứu về SKSS, tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS của nhóm lao động di cư, trong đó quan tâm đến nhóm lao động XBG Việt - Trung; hai là, các nghiên cứu về SKSS và tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS của phụ nữ DTTS, trong đó quan tâm đến phụ nữ các dân tộc Tày, Nùng. Các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản của người lao động di cu và nhóm lao động xuyên biên giới Việt - Trung Các công trình nghiên cứu trong nước Tháng 12 năm 2003, WHO xuất bản ấn phẩm “Di dân quốc tế, sức khoẻ và nhân quyền” trong đó chú ý đến tình trạng phổ biến của các nguy cơ cho sức khoẻ của người di cư trên thé giới, bao gồm cả sức khoẻ tình dục và SKSS đã có ảnh hưởng đến một số nghiên cứu của Việt Nam. Theo đó, WHO nhận định rang nhìn chung người di cư thường có nguy cơ rủi ro về sức khoẻ cao hơn so với người không di cư. Trên cơ sở tiếp cận của WHO, nghiên cứu của Viện Khoa học lao động và xã hội (2013) cho rằng, phụ nữ di cư đễ bị tổn thương về sức khỏe, đặc biệt là SKSS, so với nam giới.
Tuy nhiên, do những rủi ro này là không dé nhận biết nên nhiều người di cu đã không tiếp cận hợp lý với các dịch vụ y tế cần thiết. Chăm sóc sức khoẻ là 13 một trong số những rủi ro và khó khăn liên quan đến di cư và cần xem xét trên diện rộng các vấn đề về văn hoá và xã hội của các hành vi có liên quan đến sức khoẻ (Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng, 2008). Người di cư ít có ý thức chăm sóc sức khoẻ và hiếm khi sử dụng các dịch vụ y tế so với dân sở tại. Khi ốm đau, họ không đến khám chữa ở các cơ sở y té, ma thuong hoặc không làm gì hoặc tự chữa chạy.
Cac tác gia cho biết, tỷ lệ nữ giới di cư tự chữa bệnh là 76% so với nam giới là 70%. Trong số ít những người có vấn đề sức khỏe đã lựa chọn đến khám chữa bệnh ở các cơ sở V tẾ, có tới 84% phải tự bỏ tiền túi để chỉ trả chỉ phí y tế, thuốc men và 12% là do gia đình họ chi trả do bản thân người lao động không có khả năng thanh toán. Khao sát các trường hợp nam giới ở tỉnh Phu Thọ đi lao động “chul” ở Trung Quốc, Nguyễn Song (2017) đưa ra con số hơn 70% số người trả lời rằng ho đã từng bị các bệnh NKQDTD, nhưng đã không lựa chọn các cơ sở y tế dé khám chữa do sợ tốn kém chi phí hoặc xấu hồ với người quen, chỉ khi tình trạng bệnh không có chiều hướng khỏi thì họ mới tìm cách chữa tri. Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng (chủ biên, 2008) cũng chỉ ra rằng, tại những quốc gia mà dân số được quản lý thông qua hệ thống đăng ký hộ khẩu như ở Việt Nam và Trung Quốc thì luôn có sự khác biệt rõ ràng giữa nhóm người di cu tạm thời va di cư dài hạn.
Trong khi những người di cư có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố có thể được đưa vào trong các kế hoạch chăm sóc sức khoẻ của Nhà nước thì những người di cư tạm thời lại không được tính đến trong kế hoạch đó. Đại đa số những người thuộc nhóm này không có BHYT tại địa phương nơi họ cư trú tạm thời. Tuy nhiên, đối voi di cư quéc tế, theo Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, số liệu hiện có không phản ánh được tình hình tiếp cận dịch vu chăm sóc sức khỏe va y tế ở nước đến, nơi lao động Việt Nam làm việc và cư trú (Vũ Thị Minh Hạnh, 2013). Đặc điểm của những dòng di cư Việt Nam là di cư cá nhân tự do ngày càng phổ biến, di cư theo mùa vụ ngày càng tăng, phụ nữ di cư ngày càng nhiều, độ tuổi của người di cư ngày càng trẻ (Vũ Thị Minh Hạnh, 2013).
14 Trong quá trình di cư (trước khi đi chuyên, trong quá trình di chuyển và trung chuyền, hòa nhập ở nơi chuyển đến), sức khỏe của người di cư chịu ảnh hưởng của bối cảnh chung về kinh tế, xã hội và môi trường, điều kiện song, làm việc và mối liên kết với cộng đồng tại nơi chuyên đến và các yếu tố liên quan cá nhân. Nghiên cứu của Trương Hiền Anh (2009) cho rằng kinh tế (thu nhập, tiền gửi về nha), học van va độ tuổi là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kiến thức, quan niệm và thực hành chăm sóc SKSS của nữ di cư lao động ở Hà Nội. Tình trạng sức khoẻ và các hành vi liên quan đến sức khoẻ của người di cư được đánh giá từ nhiều góc độ và trên những chỉ báo cụ thé. Trước hết là đánh giá của bản thân người lao động di cư.
Xét trên chỉ báo về tình trạng ốm đến mức phải nghỉ ít nhất một ngày trong 12 tháng qua, nhóm di cư tam thời (tương tự nhóm lao động XBG có tính chất mùa vụ) có tình trạng sức khoẻ yếu nhất so với người di cư lâu dài hoặc không di cư. Kết quả này có lẽ liên quan nhiều và bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ làm việc cao hơn trong các công việc có tính chất tạm thời, nguy hiểm và độc hại hơn trong khi thời gian làm việc trung bình của nhóm di cư tạm thời lại nhiều hơn so với các nhóm di cư khác. Một lý do khác là thường những người di cư tạm thời là những người năm trong độ tuổi trẻ và “khó nằm yên” được một chỗ khi ốm. Đồng thời, áp lực kiếm tiền để tiết kiệm cho bản thân và gia đình lớn trong khi mạng lưới xã hội của họ nhỏ hơn so với những người di cư lâu dài (Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, 2011).
Tâm lý, tinh thần của người di cư cũng là một chỉ báo sức khoẻ cần đánh giá. Đó là cảm giác mệt mỏi, suy nhược; cảm giác bồn chén, lo lắng; cảm giác cô đơn; mức độ hài lòng với thực tế công việc và sức khoẻ. Các hành vi có ảnh hưởng đến sức khoẻ, như sử dụng thuốc lá và rượu bia, trong nữ giới thấp hơn hắn nam giới. Đáng quan tâm nhất là việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người di cư.
So sánh của Lê Bạch Dương và Nguyễn Văn Thiêm (2011) cho thấy tự điều trị là hành vi phổ biến hơn trong nhóm dân số di cư tạm thời. Các tác giả đã 15 đưa ra các chỉ báo về sức khoẻ và hành vi liên quan đến sức khoẻ của người lao động trên cơ sở phân nhóm đối tượng theo loại hình di cư, chứ chưa đề cập cụ thé đến việc chăm sóc sức khoẻ, trong đó có van đề SKSS của ho. Quy mô di cư gia tăng đáng kể trong thời gian qua va sự di chuyên dân số cũng làm tăng thêm khả năng lây lan các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt đối với nhóm lao động di cư đến sống và làm việc ở những nơi có nguy cơ phơi nhiễm HIV cao như trung tâm đô thị, khu công nghiệp, biên giới, cảng biển (Đặng Nguyên Anh, 2006). Lao động di cư thiếu kiến thức phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế công cộng.
Cho dù di cư nội địa hay XBG, tự nguyện hay cưỡng bức, làn sóng nảy cũng tạo ra điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt khiến người di cư dé bị tổn thương và có nguy cơ nhiễm HIV (UNRTF, 2008). Đồng thời, sự thay đổi môi trường sống cũng ảnh hưởng đến lối sống của mỗi cá nhân. “Người đi làm ăn xa không chỉ trải nghiệm những gi xảy ra trong cuộc sống khi xa nhà, mà còn thay đổi cả những hành vi của mình” (Đặng Nguyên Anh, 2006). Nam giới thường có xu hướng uống rượu, một số thử hít heroin, ma tuý, đánh bài, cờ bạc.
Tình trạng xa gia đình và cô đơn khiến người di cư tìm đến các dịch vụ mại dâm, các quan hệ tinh dục ngoài hôn nhân, trong khi đó tỷ lệ sử dung bao cao su của người di cư rất thấp. Do đó, họ dễ nhiễm HIV/AIDS và có khả năng lây truyền cho vợ, bạn tình và có thê gián tiếp cho con cái (Nguyễn Hiệp Thương chủ biên, tr. Nữ giới có thé gặp phải sự quấy rối và lạm dung tình dục bởi những người chủ và kẻ xấu. “Gia đình ở nhà lo lắng nhất cho người di cư là sức khỏe, thứ hai là tai nạn và rủi ro, thứ ba mới tới thu nhập và việc làm, trong khi mục đích của di cư chủ yếu là kinh tế.
Điều này thé hiện sự bap bênh trong tổ chức cuộc sông và những khó khăn trở ngại trong việc tiếp cận y tế của người di cư” (Viện Xã hội học, 2009). Nhiều nghiên cứu nhìn nhận lao động XBG như một hình thức đi cư lao động quốc tế (Vũ Trường Giang và cộng sự, 2018). Dựa vào mạng lưới 16 xã hội, người đi cư có thé giảm thiêu những rủi ro khi di chuyên và trong quá trình sinh sống ở nơi họ đến (Đặng Nguyên Anh, 1998). Quan điểm chung là với quá trình toàn cầu hoá, tiềm năng phát triển kinh tế do tự do trao đổi thương mại mang lại cũng có thể được áp dụng đối với tự do đi lại của con người.
Theo một nghiên cứu, “tự do hoá lao động di cư XBG có thể mang lại lợi nhuận cao gấp 25 lần so với những lợi ích thu được từ các chương trình chỉ tập trung vào tự do hoá thương mại va tiền tệ” (Rodrick, Dani, 2002)”. Ở châu Á, khi mà bảo trợ xã hội chính thức và mạng lưới an toàn xã hội chỉ hỗ trợ chưa tới được 10% dân sé, người di cư càng dé bị ton thương.