Tổng quan luận án
Hoạt động di cư lao động xuyên biên giới (XBG) giữa Việt Nam và Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ và mở lại hệ thống cửa khẩu biên giới vào đầu thập niên 1990. Khu vực biên giới trên bộ giữa hai quốc gia kéo dài 1.449,566 km, đi qua 7 tỉnh của Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) tiếp giáp với tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Đây là địa bàn sinh sống lâu đời của 26 tộc người có quan hệ xuyên biên giới, trong đó người Tày và Nùng chiếm số lượng lớn. Trong bối cảnh phát triển kinh tế vùng biên, các luồng di cư lao động tự do, không chính thức và xuất cảnh trái phép qua đường mòn, lối mở sang Trung Quốc làm thuê ngày càng gia tăng. Phụ nữ chiếm tỷ lệ đáng kể trong các dòng di cư này (ước tính khoảng 60% đến 70% trong các hoạt động lao động nông nghiệp như chặt mía, làm cỏ). Tuy nhiên, do tính chất phi chính thức, người lao động không có hợp đồng lao động và không được bảo trợ pháp lý hay tiếp cận các hệ thống an sinh, y tế chính quy tại nơi đến, dẫn đến nhiều rủi ro về sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản (SKSS).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận lao động XBG dưới góc độ sinh kế kinh tế, buôn bán tiểu ngạch, an ninh biên giới, hôn nhân xuyên biên giới, hoặc nghiên cứu y tế - SKSS đơn thuần ở vùng đồng bằng; thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống về vấn đề SKSS và chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) lao động XBG dưới lăng kính nhân học y tế và văn hóa tộc người.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu việc chăm sóc SKSS của phụ nữ các dân tộc Tày, Nùng từ góc độ văn hóa tộc người trong bối cảnh lao động XBG Việt Nam – Trung Quốc, qua đó góp phần xây dựng cơ sở khoa học để tăng cường việc chăm sóc SKSS của phụ nữ DTTS và an sinh xã hội vùng biên.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu bối cảnh kinh tế - xã hội của hoạt động lao động XBG của phụ nữ các dân tộc Tày, Nùng ở huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Tìm hiểu các vấn đề, nguy cơ SKSS và cách thức chăm sóc SKSS của phụ nữ các dân tộc Tày, Nùng huyện Văn Quan lao động xuyên biên giới Việt Nam – Trung Quốc.
- Đề xuất khuyến nghị nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc tăng cường chất lượng chăm sóc SKSS của phụ nữ DTTS lao động XBG Việt Nam – Trung Quốc.
Giả thuyết khoa học:
Việc chăm sóc SKSS của phụ nữ các dân tộc Tày, Nùng lao động XBG Việt – Trung phụ thuộc quan niệm, thực hành của họ trong điều kiện văn hóa - xã hội cộng đồng địa phương, đồng thời còn do các tương tác với bối cảnh xã hội tại nơi họ đến lao động.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Việc chăm sóc SKSS của phụ nữ các dân tộc Tày, Nùng ở huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xuất cảnh trái phép để tham gia hoạt động lao động XBG Việt Nam – Trung Quốc (tập trung vào lao động làm thuê nông nghiệp như thu hoạch mía, làm cỏ và làm thuê trong nhà xưởng).
- Phạm vi không gian: Huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn; tập trung khảo sát tại thị trấn Văn Quan, xã Đại An, xã Tú Xuyên, kết hợp phỏng vấn ngẫu nhiên tại các xã Chu Túc, Văn An, Tân Đoàn, Tràng Sơn, Yên Phúc.
- Phạm vi thời gian: Nhóm phụ nữ Tày, Nùng từng tham gia lao động XBG trong khoảng thời gian từ năm 1991 (thời điểm ký Hiệp định tạm thời mở lại biên giới Việt - Trung) đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai mạch nội dung chính:
- Nghiên cứu về SKSS của lao động di cư và lao động xuyên biên giới Việt - Trung:
- Nghiên cứu trong nước: Các tài liệu của WHO (2003) và Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2013) khẳng định người di cư, đặc biệt là lao động nữ, dễ tổn thương về SKSS do rào cản nhận biết rủi ro và tiếp cận y tế. Nghiên cứu của Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng (2008) chỉ ra 76% nữ di cư tự chữa bệnh khi ốm đau; 84% người khám chữa bệnh phải tự chi trả tiền túi. Nguyễn Song (2017) khảo sát nam giới lao động chui sang Trung Quốc ghi nhận hơn 70% từng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục nhưng không đến cơ sở y tế do ngại chi phí và xấu hổ. Đặng Nguyên Anh (1998, 2006) phân tích nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và vai trò của mạng lưới di cư. Các tác giả Trần Quý Long (2015), Đặng Thị Hoa (2016), Bùi Xuân Đính (2008), Phạm Thị Thu Hà (2013), Nguyễn Văn Minh (2019), Trần Thị Hồng (2015), Lý Hành Sơn và Trần Thị Mai Lan (2017) đã làm rõ lao động XBG như một chiến lược sinh kế hộ gia đình của đồng bào Tày, Nùng dựa trên mối quan hệ đồng tộc lịch sử với người Choang ở Quảng Tây, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh chăm sóc SKSS.
- Nghiên cứu quốc tế: Yuk Wah Chan (2013), S. Turner (2010, 2015) nghiên cứu sinh kế, mạng lưới thương nhân vùng biên Lào Cai; T. Michaud (2011) nghiên cứu biến đổi sinh kế vùng cao nguyên Việt - Trung - Lào; Liang Maochun và Chen Wen (2014), Chu Kiện và Lưu Đông Nhiệm (2005) khảo sát hôn nhân xuyên biên giới phi chính thức; Donald Hickerson (2012) phân loại hình thức di cư tại Lạng Sơn; Vĩ Phúc An (2014), Tần Hồng Lãng và cs (2012), Hà Hữu Lương và Trần Yến Lệ (2019) phân tích phương thức di cư thời vụ của lao động Việt Nam tại các vùng mía Quảng Tây dựa trên tính tương đồng văn hóa. Tuy nhiên, các khía cạnh về sức khỏe và chăm sóc SKSS của lao động Việt Nam ở nước sở tại chưa được phân tích toàn diện.
- Nghiên cứu về SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số và văn hóa Tày, Nùng:
- UNFPA (2010a) rà soát 58 nghiên cứu giai đoạn 2000-2007 cho thấy kiến thức về nhiễm khuẩn đường sinh sản của phụ nữ DTTS rất thấp (hơn 4/5 phụ nữ Tày, Hmông không biết về bệnh này). Các nghiên cứu của Bùi Thế Cường (2002), Nguyễn Bảo Đồng và Đào Quang Vinh (2011), Phùng Đức Tùng và cộng sự (2017), CARE (2016) chỉ ra các rào cản địa lý, tài chính và văn hóa trong việc tiếp cận dịch vụ y tế công, dẫn đến tập quán sinh con tại nhà và tự chữa bệnh bằng y học dân gian.
- Các công trình kinh điển về dân tộc Tày, Nùng của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1984), Viện Dân tộc học (1992), Hoàng Nam (1992), Vi Văn An (2006), Hoàng Thùy Dương (2015) chủ yếu mô tả phong tục tập quán, tri thức dân gian, tín ngưỡng chữa bệnh (quan niệm ma lành, ma dữ, cúng bái trừ tà), chưa liên kết thực hành chăm sóc SKSS với bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội hiện đại và di cư lao động.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về vấn đề SKSS và thực hành chăm sóc SKSS của nhóm phụ nữ Tày, Nùng tham gia lao động XBG, đặt trong sự tương tác đa chiều giữa văn hóa tộc người, điều kiện kinh tế - xã hội vùng biên và bối cảnh lao động phi chính thức tại Trung Quốc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng đa dạng các lý thuyết và cách tiếp cận liên ngành giữa Dân tộc học, Nhân học Y tế và Xã hội học:
| Lý thuyết / Khung phân tích |
Tác giả tiêu biểu |
Nội dung vận dụng trong luận án |
| Tiếp cận Diễn giải văn hóa |
Clifford Geertz (1973), Arthur Kleinman (1978), Fabrega (1975) |
Coi văn hóa là mạng lưới ý nghĩa; phân tích mô hình hệ thống y tế đa nguyên gồm 3 khu vực: Y học dân gian, Y học chuyên môn (Tây y), và Y học phổ thông (thường thức). Phân tích mô hình giải thích và mô hình hành vi tìm kiếm sức khỏe của phụ nữ Tày, Nùng. |
| Tiếp cận Sinh thái học văn hóa |
Peter J. Brown (1996) |
Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, điều kiện sinh hoạt/làm việc nơi nhập cư với sinh thái bệnh tật và hành vi chăm sóc sức khỏe. |
| Thuyết Di cư lao động quốc tế của phụ nữ |
Nicola Piper (2009, 2012), Guy Standing (1989), Saskia Sassen (2000) |
Nhìn nhận hiện tượng nữ hóa trong di cư lao động phi chính thức, không thời vụ; phân tích phụ nữ như những chủ thể kinh tế chủ động tìm kiếm sinh kế xuyên quốc gia. |
| Khung phân tích Di cư - Sức khỏe |
UNDP (2004/2006), IOM (2017), WHO (2008) |
Khảo sát các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp (đặc điểm cá nhân, lối sống, điều kiện làm việc, mạng lưới cộng đồng, chính sách y tế) đến tình trạng SKSS và hành vi y tế của người di cư. |
| Lý thuyết Mạng lưới xã hội và Vốn xã hội |
Mark Granovetter (1973), Ronald Burt (1992), Pierre Bourdieu, Alejandro Portes |
Sử dụng khái niệm "mối liên kết yếu", "lỗ hổng cấu trúc" và "vốn xã hội" để lý giải cách phụ nữ di cư xây dựng mạng lưới hỗ trợ tìm việc, vay mượn tài chính, chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc SKSS và ứng phó rủi ro. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp định tính đặc trưng của Dân tộc học / Nhân học làm chủ đạo:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tiến hành qua nhiều đợt khảo sát thực địa tại huyện Văn Quan (tập trung tại thị trấn Văn Quan, xã Đại An, xã Tú Xuyên).
- Phỏng vấn sâu: Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc đối với phụ nữ Tày, Nùng từng đi lao động XBG. Tác giả vận dụng phương pháp thiết lập quan hệ tin cậy, tiếp cận thông qua mạng lưới thông tín viên cũ kết hợp tham gia sinh hoạt cộng đồng (chợ phiên, đám cưới, lễ vào nhà mới, lễ đầy tháng, các cuộc họp thôn/xã).
- Phỏng vấn hồi cố (Đường đời sinh sản): Tái hiện tiến trình mang thai, sinh nở, sử dụng biện pháp tránh thai và các biến cố SKSS của thông tín viên theo dòng thời gian lao động di cư.
- Quan sát tham dự: Quan sát điều kiện ăn ở, sinh hoạt, tập quán chữa bệnh và tương tác xã hội của phụ nữ tại cộng đồng quê hương.
- Nguồn tư liệu: Kết hợp tư liệu điền dã thực địa với dữ liệu thứ cấp từ UBND huyện Văn Quan, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Y tế, Công an huyện Văn Quan, Trạm y tế các xã, cùng các báo cáo của Tổng cục Thống kê, Cục Cửa khẩu, IOM và UNFPA.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, tổng quan lịch sử nghiên cứu về SKSS của lao động di cư và phụ nữ DTTS; định nghĩa các khái niệm công cụ bao gồm: Sức khỏe sinh sản (theo định nghĩa của WHO 1946 và ICPD Cairo 1994), Chăm sóc sức khỏe sinh sản (tập hợp phương pháp, kỹ thuật, dịch vụ phòng ngừa, can thiệp và nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội), và Lao động xuyên biên giới (lao động làm thuê thời vụ nông nghiệp, nhà xưởng sang Trung Quốc không có hợp đồng chính thức, kéo dài từ một tuần trở lên). Chương này xác lập khung phân tích nhân học y tế, tiếp cận diễn giải văn hóa, sinh thái học văn hóa, mô hình đa nguyên y tế của Kleinman và lý thuyết mạng lưới xã hội của Granovetter làm kim chỉ nam xuyên suốt toàn bộ luận án.
Chương 2: Điều kiện kinh tế - xã hội và bối cảnh lao động xuyên biên giới ở huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Chương 2 phác họa bức tranh toàn diện về địa bàn nghiên cứu và bối cảnh di cư:
- Huyện Văn Quan có 98,5% dân số là người Tày, Nùng (dân tộc Nùng chiếm 63,9%, dân tộc Tày chiếm 34,6%). Địa bàn nghiên cứu trọng điểm gồm thị trấn Văn Quan, xã Đại An và xã Tú Xuyên. Khoảng cách trung bình từ huyện đến các cửa khẩu lân cận (Đồng Đăng, Cốc Nam/Công Trắng) là khoảng 32 km, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển qua lại biên giới.
- Hoạt động xuất cảnh trái phép: Giai đoạn 2015-2019, trung bình mỗi năm huyện ghi nhận trên dưới 2.000 lượt người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Phụ nữ tham gia ngày càng đông đảo vào các công việc thời vụ (chặt mía, làm cỏ, trồng dứa, trồng chuối, làm việc tại xưởng gỗ, xưởng gia công).
- Yếu tố thúc đẩy và rào cản: Động lực chính bắt nguồn từ tình trạng thiếu việc làm sau mùa gặt nông nghiệp (lịch nông vụ tạo ra các khoảng thời gian nông nhàn), thu nhập thuần nông thấp và chênh lệch mức tiền công giữa hai bên biên giới. Các yếu tố hạn chế gồm: tình trạng cư trú bất hợp pháp, nguy cơ bị cơ quan chức năng nước sở tại bắt giữ, phạt tiền, trục xuất, rủi ro bị bóc lột sức lao động, lừa đảo, điều kiện ăn ở tạm bợ tại các lán trại nông trường.
- Mạng lưới tổ chức: Hoạt động di cư chủ yếu vận hành dựa trên các mạng lưới xã hội phi chính thức (họ hàng, người cùng làng bản, người môi giới địa phương dẫn đường qua lối mòn).
Chương 3: Các vấn đề sức khỏe sinh sản và mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng các vấn đề SKSS và mạng lưới y tế của phụ nữ Tày, Nùng ở cả hai không gian: nơi xuất cư (quê nhà) và nơi nhập cư (Trung Quốc):
- So sánh các vấn đề SKSS:
- Nơi xuất cư: Phụ nữ đối mặt với các vấn đề như viêm nhiễm phụ khoa (nhiễm khuẩn đường sinh sản - NKĐSS), sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) hiện đại (vòng tránh thai, thuốc uống), tập quán sinh con tại nhà vẫn tồn tại ở các nhóm phụ nữ lớn tuổi hoặc vùng sâu dù tỷ lệ sinh tại trạm y tế đã tăng lên. Phân tích "Đường đời sinh sản" cho thấy gánh nặng sinh đẻ sớm và khoảng cách sinh dày đặc trong giai đoạn trước khi di cư.
- Nơi nhập cư: Môi trường làm việc độc hại ngoài trời (ngâm nước, phơi nắng, tiếp xúc hóa chất bảo vệ thực vật khi làm mía), điều kiện vệ sinh thiếu thốn tại lán trại làm gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh viêm nhiễm phụ khoa, rối loạn kinh nguyệt và tai nạn lao động ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản.
- Mạng lưới chăm sóc SKSS:
- Tại quê nhà (nơi xuất cư): Người dân tiếp cận hệ thống y tế đa nguyên gồm Trạm y tế xã, Trung tâm y tế huyện, phòng khám tư nhân, kết hợp song song với tri thức y học dân gian (uống thuốc nam, xông lá cây rừng) và nghi lễ cúng bái truyền thống (giải hạn, trừ tà khi bệnh kéo dài).
- Tại Trung Quốc (nơi nhập cư): Người lao động hoàn toàn bị cô lập khỏi hệ thống bảo hiểm và dịch vụ y tế công chính thống. Mạng lưới chăm sóc SKSS của họ thu hẹp tối đa, hành vi y tế phổ biến nhất là tự chữa trị: tự mang thuốc tây/thuốc nam từ Việt Nam sang, mua thuốc giảm đau tại các quầy thuốc nhỏ lẻ của người bản địa thông qua sự giúp đỡ của chủ lao động hoặc phiên dịch, và dựa vào sự chăm sóc lẫn nhau của chị em trong nhóm cùng đi làm.
Chương 4: Các yếu tố tác động đến sức khỏe sinh sản và việc chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chương 4 phân loại và phân tích 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ Tày, Nùng:
[Yếu tố cá nhân]
[Yếu tố văn hóa tộc người]
[Yếu tố kinh tế - xã hội]
[Yếu tố hệ thống và chính sách y tế]
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:
- Luận án là công trình nhân học y tế đầu tiên tiếp cận một cách toàn diện vấn đề chăm sóc SKSS của phụ nữ DTTS trong bối cảnh di cư lao động xuyên biên giới Việt - Trung.
- Làm sáng tỏ mô hình hệ thống y tế đa nguyên (dân gian, chuyên môn, thường thức) trong thực hành chăm sóc sức khỏe của người Tày, Nùng, chứng minh rằng các hành vi lựa chọn y tế không chỉ mang tính sinh học thuần túy mà là sự tích hợp sâu sắc giữa tri thức tộc người, mạng lưới xã hội và sự thích ứng sinh thái nơi nhập cư.
- Bổ sung tư liệu thực địa có giá trị về hiện tượng nữ hóa trong di cư biên giới và tác động của nó đến đời sống giới, gia đình và cấu trúc xã hội vùng biên giới phía Bắc.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và chính sách:
- Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng cho các cơ quan hoạch định chính sách dân số, y tế và lao động tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường truyền thông SKSS thích ứng văn hóa tộc người (lồng ghép tiếng mẹ đẻ, tận dụng già làng, người có uy tín, chợ phiên).
- Kiến nghị hoàn thiện các thỏa thuận hợp tác lao động song phương qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm hợp pháp hóa lao động thời vụ, tạo cơ chế bảo trợ an sinh và tiếp cận dịch vụ y tế khẩn cấp cho lao động di cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do tính chất nhạy cảm và bất hợp pháp của hoạt động xuất cảnh trái phép, việc tiếp cận thông tín viên trên thực địa gặp nhiều khó khăn do tâm lý e dè, cảnh giác. Các dữ liệu về chăm sóc y tế tại nước sở tại chủ yếu được thu thập qua phương pháp hồi cố từ người lao động sau khi trở về quê hương, chưa thể thực hiện điền dã trực tiếp tại các lán trại, nông trường bên trong lãnh thổ Trung Quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát so sánh giữa các nhóm tộc người khác ở khu vực biên giới phía Bắc (như Hmông, Dao, Hà Nhì); nghiên cứu sâu hơn về sức khỏe tâm thần và các nguy cơ lạm dụng giới, buôn bán người trong các luồng di cư xuyên quốc gia.
Giá trị tham khảo
- Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tài liệu là nguồn tham khảo quan trọng về phương pháp điền dã dân tộc học, kỹ thuật phỏng vấn đường đời sinh sản, và cách thức vận dụng các lý thuyết nhân học y tế, mạng lưới xã hội, sinh thái văn hóa vào nghiên cứu y tế công cộng và nhân học xã hội.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức xã hội: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, chính quyền tỉnh Lạng Sơn và các tổ chức quốc tế (IOM, UNFPA) trong việc xây dựng các can thiệp can thiệp y tế cơ sở, quản lý lao động qua biên giới và bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ dân tộc thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu nhóm đối tượng phụ nữ cụ thể nào và tại địa bàn nào?
Luận án tập trung nghiên cứu phụ nữ các dân tộc Tày và Nùng tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, những người đã từng xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc để làm thuê thời vụ (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp như chặt mía, làm cỏ và làm việc tại nhà xưởng) trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2019.
2. Các vấn đề sức khỏe sinh sản nổi cộm nhất của phụ nữ Tày, Nùng khi sang Trung Quốc làm việc là gì?
Các vấn đề nổi bật gồm: viêm nhiễm đường sinh sản (nhiễm khuẩn phụ khoa) do điều kiện sinh hoạt ẩm thấp, thiếu nước sạch tại các lán trại tạm bợ; rối loạn kinh nguyệt và suy kiệt thể chất do làm việc nặng nhọc ngoài trời thời gian dài; hoàn toàn không tiếp cận được các dịch vụ khám thai, tránh thai an toàn hoặc chăm sóc sản khoa chính quy tại nước sở tại.
3. Phụ nữ di cư tự chăm sóc và ứng phó với bệnh tật như thế nào khi ở Trung Quốc?
Họ chủ yếu sử dụng chiến lược tự điều trị: tự chuẩn bị sẵn các loại thuốc tây thông thường và thuốc lá dân gian mang từ Việt Nam sang; chia sẻ kinh nghiệm chữa trị trong mạng lưới chị em cùng đi làm; nhờ chủ thuê hoặc người môi giới mua hộ thuốc giảm đau tại các quầy thuốc bản địa khi bệnh nặng; hoàn toàn không dám đến các bệnh viện lớn do không có giấy tờ hợp pháp, thiếu bảo hiểm y tế và sợ bị bắt giữ, trục xuất.
4. Lý thuyết nhân học y tế nào được sử dụng để phân tích hệ thống y tế của người Tày, Nùng?
Luận án vận dụng mô hình hệ thống y tế đa nguyên của Arthur Kleinman (1978), phân tích sự kết hợp đan xen giữa ba khu vực: y học dân gian (thầy lang, thuốc nam, cúng bái tâm linh), y học chuyên môn (trạm y tế xã, bệnh viện Tây y) và y học phổ thông (kinh nghiệm tự chữa bệnh truyền miệng trong gia đình, cộng đồng).
5. Yếu tố văn hóa tộc người ảnh hưởng như thế nào đến việc chăm sóc SKSS của phụ nữ trong luận án?
Quan niệm truyền thống về nguyên nhân đau ốm (như quan niệm ma lành, ma dữ, hồn lìa khỏi xác), tập quán cúng bái giải hạn, việc sử dụng các bài thuốc thảo dược dân gian, cùng với áp lực phải sinh con và sinh con trai nối dõi là những yếu tố văn hóa sâu rễ bền gốc chi phối trực tiếp nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của phụ nữ Tày, Nùng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Dân tộc học của nghiên cứu sinh Hoàng Thị Lê Thảo đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về thực trạng và các yếu tố chi phối việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ dân tộc Tày, Nùng huyện Văn Quan trong bối cảnh lao động xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Bằng phương pháp tiếp cận diễn giải văn hóa và nhân học y tế, công trình đã chứng minh hành vi ứng phó sức khỏe của người lao động là sự tổng hòa giữa tri thức dân gian tộc người, mạng lưới xã hội phi chính thức và sự thích nghi sinh tồn trước những rào cản thể chế, pháp lý nơi nhập cư. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu học thuật quan trọng cho chuyên ngành Dân tộc học và cung cấp luận cứ thực tiễn thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, y tế vùng biên.