CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VE HỖ TRỢ CHA ME TRONG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SAN CHO CON Trong chương này, tác giả sẽ rà soát các nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án. Nội dung chương là kết quả điểm luận các nghiên cứu tiêu biểu trên thé giới và trong nước xoay quanh chủ đề về cha mẹ giáo dục SKSS cho con ở tuổi VTN nói chung và THCS nói riêng cùng các hoạt động hỗ trợ cho cha mẹ để nâng cao năng lực giáo dục SKSS cho con ở độ tudi nay. Đề thực hiện việc tìm kiếm tài liệu, tác giả đã sử dụng các từ khoá “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên”, “cha mẹ”, “giáo dục sức khoẻ sinh sản”, “học sinh trung An? € 33c học cơ sở”, “parent” , “sexual education’, “adolescent reproductive health”. Sau quá trình tìm kiếm, tác giả đã thực hiện rà soát và khái quát các nghiên cứu theo các khía cạnh nghiên cứu cơ bản như sau: (1) Hướng nghiên cứu về tác động của cha mẹ đến SKSS của con (2) Hướng nghiên cứu về thực trạng giáo dục con về SKSS cho con ở độ tuổi THCS của các cha mẹ (3) Hướng nghiên cứu vỀ các chương trình hé trợ cha me để giáo dục SKSS cho con ở độ tuổi THCS 1.Nghiên cứu về tác động của cha mẹ đến sức khoẻ sinh sản của con 1.
Ảnh hưởng của cha mẹ đến hành vi tinh dục và sức khoẻ sinh sản Của con Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và chứng minh được sự ảnh hưởng của yếu tố môi trường mà vị thành niên trưởng thành trong đó có tác động rất lớn đến hành vi tình đục và SKSS của trẻ, trong đó có yếu tố tác động từ gia đình và cha mẹ. Theo Kirby, những đứa trẻ thường xuyên sống trong đói nghèo, có trình độ học van thấp, thường xuyên hay phải thay đổi chỗ ở và gia đình tan vỡ thì xu hướng tham gia vào hoạt động tình dục sớm hơn và nguy cơ mang thai cao hơn những đứa trẻ khác. Gia đình còn tạo ra môi trường có thé làm hạn chế hoặc làm trầm trong hơn tác động của nhóm bạn tới khả năng xuất hiện các hành vi liên quan đến sức khỏe của vi thành niên (Kirby, 1997). Trong nghiên cứu về những ảnh hưởng của cấu trúc gia đình và cha mẹ đến SKSS và SKTD của người trẻ tại miền Bắc Tanzania, Joyce Wamoyia và đồng nghiệp (2015) đã thực hiện quan sát người tham gia, tô chức 26 cuộc phỏng van sâu và 11 cuộc thảo luận nhóm với thanh niên từ 14-24 tuổi, 20 cuộc phỏng van sâu và 6 cuộc thảo luận nhóm với cha mẹ /người chăm sóc trẻ trong độ tuổi này.
Thừa nhận rằng các yêu tố cấu trúc ở cấp độ vĩ mô định hình hoạt động của chính gia đình, nghiên cứu đã tìm hiểu cách gia đình hành động theo một phương thức cau trúc dé tác động đến tinh dé bị tốn thương hoặc kha năng chống chịu của thanh niên đối với SKSS / SKTD kém theo mô hình sau: NHŨNG ANH HƯỚNG Các hành vi tinh TRONG GIA ĐÌNH ee dục của trẻ Các yêu tô câp vĩ mô: Sự Nhiem - are rs kết ;nói, ? Quy định + ? -C ng lưc/ kh se có HIV Giới - Kinh tế Cung cap, or? Tự chủ, a Vai 8 HN Hới XIONg năng lực thương lượng 60 Có thai - Văn hoá trò làm mau trong lỆ việc ử didụng sử ngoài ý goai ý - Luật pháp BCS muốn Con - QHTD có sự trao đổi - Tự chủ do thiếu sự cung cấp - Tự nhận thức vật chất - Năng lực liên cá nhân - Che dấu cha mẹ việc có và các kĩ năng thương QHTD với ban tình lượng Hình 1. Những ảnh hướng của gia đình đến hành vi tinh duc của trẻ (Joyce Wamoyia et al , 2015) Két quả nghiên cứu cũng cho thấy, ở cấp độ cá nhân, việc nuôi dạy con cái và cấu trúc gia đình được phát hiện có ảnh hưởng đến hành vi tình dục của thanh niên băng cách ảnh hưởng đến sự tự tin và năng lực tương tác của họ. Các chuẩn mực tình dục được tái tạo thông qua các lệnh cam rõ ràng của cha me và các hành vi của chính họ. Các cô gái được xã hội hóa dé chap nhận sự vượt trội và những ưu thế của nam giới, điều này định hình cho việc giao tiếp trong các mối quan hệ tình dục của họ.
Khả năng và sự sẵn sàng của cha mẹ trong việc cung cấp vật chất cho con gái của họ có vai trò quan trọng tác động đến hành vi SKSS / SKTD của con. Những phát hiện nay đã nhắn mạnh ảnh hưởng cau trúc của thành phan gia đình và việc nuôi day con cái đối với SKSS / SKTD của thanh niên. Những người trẻ tuổi mà cha mẹ nói chuyện với họ về tình dục thường ít quan hệ tình dục hơn, nhưng nếu có, họ có nhiều khả năng sử dụng bao cao su và biện pháp tránh thai. Pariera, 2016) Trong bài viết về “Ảnh hưởng của gia đình đối với đời sống tình dục của vị thành niên” do Susan Pick và Patricia Andrade Palos thực hiện năm 1995 trình bay kết qua của 3 nghiên cứu liên quan được thực hiện bởi Pick de Weiss và đồng nghiệp, ông đã kiểm chứng việc thực hành tình dục và phòng tránh thai của các nữ thanh thiếu niên từ 12 -19 tuổi tại thành phố Mexico và cho thấy việc giao tiếp với mẹ và lịch sử mang thai của những người thân là nữ trong gia đình là những chỉ báo đối với sự khởi đầu trong những mối quan hệ tình dục, sử dụng biện pháp tránh thai và mang thai của các nữ thanh thiếu niên nay (Pick de Weiss, Diaz-Loving, Andrade Palos, & Atkin, 1988).
Đồng thời, khi kiêm chứng sự khác biệt giữa những nam thanh niên trẻ, những người đã có bạn gái mang thai và không mang thai cũng cho thấy mức độ giao tiếp với cha mẹ ảnh hưởng đến hành vi tình dục của họ (Pick de Weiss, Andrade de Palos, Alvarez, & Gribble, 1990). Nhìn chung, kết quả của cả ba nghiên cứu đều hỗ trợ cho giả thuyết rằng gia đình có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi tình dục và sử dụng các biện pháp tránh thai của trẻ và cung cấp lý lẽ cho việc tăng cường sự giao tiếp giữa cha mẹ và trẻ trong các chương trình giáo dục tình dục. (Pick & Palos, 1995) Nghiên cứu với quy mô toàn quốc tại Hà Lan của Graaf cùng cộng sự đối với những thanh thiếu niên từ 12 -25 tuổi đã khám phá sự ảnh hưởng từ những hỗ trợ của cha mẹ và kiến thức cha mẹ đối với những trải nghiệm tình dục và SKSS của trẻ. Kết quả cho thấy cả sự hỗ trợ và kiến thức của cha mẹ đều liên quan tích cực đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai, những kĩ năng xã hội trong sự tương tác 10 liên quan đến tình dục, sự thỏa mãn tình dục và trì hoãn quan hệ tình dục lần đầu.
(de Graaf et al. Trong nghiên cứu của mình, Emmanuel Asampong và cộng sự cũng chỉ ra rằng, những VTN báo cáo là hài lòng với cha mẹ sẽ ít tham gia vào tình dục hơn gấp 2,7 lần những VTN ít thoả mãn trong mối quan hệ với cha mẹ (Emmanuel Asampong et al, 2013) Giao tiép về chủ dé tình dục giữa cha mẹ và con cái được coi là cách thức hiệu quả nhất dé trì hoãn tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên ở thanh thiếu niên. Trẻ VTN thường thảo luận các vấn đề liên quan đến giới tính và tình dục với mẹ sẽ ít có xu hướng có hoạt động tình dục sớm và có quan điểm chín chắn hơn về quan hệ tình dục so với trẻ không có thảo luận với me (Colleen D, 1999). Santrock cũng chi ra rằng VTN nữ áp dụng các biện pháp phòng tránh thai tăng lên nếu trò chuyện về tình dục với cha mẹ.
Trẻ VTN có thé phải chịu những rủi ro mang thai ở tuổi VTN nếu trong gia đình, cha mẹ thiếu kĩ năng giáo dục về SKTD. Rogers cũng cho rằng giao tiếp về các vấn đề liên quan tới SKSS/TD có thể làm giảm nguy cơ tình dục ở trẻ VTN. Đặc biệt, có mối liên hệ giữa hiệu quả của việc giao tiếp, truyền thông, giáo dục của cha mẹ đối với hành vi SKSS va tinh dục ở trẻ (Rogers, 2016). Ayalew và cộng sự cũng chi ra, những VTN sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên có giao tiếp về các vấn đề SKSS và tình dục với bố mẹ cao hơn 1,9 lần so với những sinh viên không giao tiếp về lĩnh vực này (Ayalew, Mengistie, & Semahegn, 2014).
Sự giám sát của cha mẹ cũng được coi là nhân tố bảo vệ dé tránh những hành vi rủi ro liên quan đến tình dục (Henderson et all, 2002, Valle et all, 2005, Zimmer Gembeck, Helfand, 2008). Số liệu điều tra sức khỏe thanh thiếu niên Mỹ — Add Health cho thay, VTN có hành vi sử dụng BCS thường xuyên hơn nếu được giao tiếp với bố mẹ về chủ đề tình dục an toàn trong gia đình (dẫn Đặng Thị Lan Anh, 2013). * Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa các đặc trưng của gia đình với những vẫn đề SKSS của VTN. Theo SAVY 1, cha mẹ là những người đầu tiên thanh thiếu niên chia sẻ, chiếm tỷ lệ cao nhất (45%), tiếp theo là bạn bè (12,8%), anh chị (4,39%).
Những dir liệu 11 này chứng minh mối quan hệ gần gũi và tin cậy giữa cha mẹ và con cái và cũng tương đồng với quan điểm của các chuyên gia về giáo dục giới tinh đã coi gia đình là môi trường có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách theo kỳ vọng của xã hội và cung cấp những hiểu biết về sinh lý sinh sản cho vị thành niên. (SAVY 1, 2013) Trong số các thanh thiếu niên đã từng quan hệ tình dục, việc giao tiếp về SKSS với cha mẹ giúp thanh thiếu niên có nhận thức nhiều hơn về bao cao su, bản bạc sử dụng bao cao su với đối tác và có tỷ lệ sử dụng bao cao su trong các lần quan hệ tình đục nhiều hơn. Bên cạnh đó, tình trạng uống rượu của cha mẹ không chỉ tác động tới hành vi sử dụng chất gây nghiện của thanh thiếu niên mà còn ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện hành vi nguy cơ về SKSS (Trần Thị Hồng, 2013). Có thể thấy rằng, các nghiên cứu đều chỉ ra ảnh hưởng của cha mẹ thông qua truyền thông, giáo dục đến hành vi tình dục của VTN.
Sự giao tiếp tích cực của cha mẹ không chỉ làm tăng nhận thức của con về SKSS/SKTD mà còn làm giảm các nguy cơ tình dục của con.