Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thanh Phong có tiêu đề đầy đủ: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên một số trường Đại học/Cao đẳng thành phố Hà Nội và hiệu quả giải pháp can thiệp”, thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội, chuyên ngành Sản phụ khoa (mã số 62720131), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Huy Hiền Hào và PGS. Phạm Huy Tuấn Kiệt vào năm 2017.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu từ tài liệu luận án, Việt Nam có tỷ lệ thanh niên trong cơ cấu dân số đạt khoảng 31,5%, thuộc nhóm cao tại khu vực Châu Á. Đi kèm với cơ cấu dân số trẻ là các thách thức liên quan đến sức khỏe sinh sản như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs). Thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình được tác giả trích dẫn cho thấy Việt Nam ghi nhận từ 1,2 đến 1,6 triệu ca phá thai mỗi năm, trong đó nhóm vị thành niên và thanh niên (VTN&TN) chiếm khoảng 20%.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và tránh thai trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào học sinh phổ thông trung học (lứa tuổi 16–18) hoặc nhóm dân cư nông thôn. Nhóm đối tượng sinh viên đại học, cao đẳng sống xa gia đình, có sự thay đổi lớn về môi trường sinh hoạt, có tỷ lệ quan hệ tình dục gia tăng nhưng chưa được khảo sát và can thiệp đầy đủ từ góc độ chuyên ngành Sản phụ khoa. Phần lớn các chương trình can thiệp trước đó chỉ dừng lại ở truyền thông đại chúng tổng quát, thiếu việc đào tạo kỹ năng thực hành lâm sàng, thao tác sử dụng đúng phương tiện tránh thai và xử trí sự cố.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về các biện pháp tránh thai và một số yếu tố liên quan của sinh viên 06 trường đại học/cao đẳng thành phố Hà Nội năm 2014.
- Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp tới kiến thức, thái độ và thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên trường Cao đẳng Xây dựng số 1.
Câu hỏi nghiên cứu
Để định hướng thu thập và xử lý dữ liệu, tác giả đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu chính:
- Kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên thành phố Hà Nội về các biện pháp tránh thai hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên về các biện pháp tránh thai?
- Giải pháp nào để có thể nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên về các biện pháp tránh thai?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất, hệ chính quy, độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi, đồng ý tham gia nghiên cứu tại 06 trường đại học và cao đẳng. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các sinh viên không tham gia được toàn bộ quá trình nghiên cứu hoặc không đồng ý tham gia.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 06 cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng, Trường Cao đẳng Xây dựng số 1, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội. Địa bàn can thiệp chuyên sâu là Trường Cao đẳng Xây dựng số 1.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu khảo sát cắt ngang vào năm 2014; quá trình triển khai can thiệp, đánh giá và hoàn thành luận án thực hiện đến đầu năm 2017 (người viết cam đoan ký ngày 22 tháng 2 năm 2017).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và các mô hình can thiệp tránh thai:
1. Tài liệu quốc tế
- Thực trạng quan hệ tình dục và mang thai ngoài ý muốn: Báo cáo Liên hợp quốc năm 2015 ghi nhận 64% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ toàn cầu dùng biện pháp tránh thai (BPTT), 57% dùng biện pháp hiện đại. Nghiên cứu tại Châu Phi chỉ ra tuổi quan hệ tình dục lần đầu tại Chad, Mali, Mozambique là dưới 16 tuổi; tỷ lệ dùng BPTT ở thanh niên chưa kết hôn dao động từ 3% (Rwanda) đến 56% (Burkina Faso). Tại Mỹ, học sinh lớp 12 có tỷ lệ quan hệ tình dục là 63,1%. Báo cáo của WHO (2008) ghi nhận 21,6 triệu ca phá thai không an toàn, khiến 47.000 phụ nữ tử vong. Viện Alan Guttmacher ước tính toàn cầu có 46 triệu ca phá thai hàng năm (chiếm 22% số ca mang thai).
- Kiến thức và thái độ: Nghiên cứu của Zhou H. và cộng sự (Trung Quốc, 2012) cho thấy sinh viên thiếu kiến thức sức khỏe sinh sản, chỉ 17,9% biết thời điểm phá thai an toàn, 58,7% chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân. Miller L. (Mỹ, 2011) khảo sát 692 sinh viên tại Pennsylvania: 74% nghe nói về viên tránh thai khẩn cấp nhưng dưới 1/3 hiểu đúng cơ chế và tác dụng phụ. Silva F. và cộng sự (Brazil) cho biết 35% sinh viên nhầm viên tránh thai khẩn cấp là thuốc phá thai. Bello F. và cộng sự (Nigeria) ghi nhận 48,2% nữ sinh quan hệ tình dục nhưng chỉ 24,3% biết về viên tránh thai khẩn cấp. Bozkurt N. và cộng sự (Thổ Nhĩ Kỳ, 2006) chỉ ra 50,5% sinh viên biết cách ngừa thai sau giao hợp không an toàn.
- Thực hành và yếu tố liên quan: Seutlwadi L. và cộng sự (Nam Phi, 2012) ghi nhận tỷ lệ dùng bao cao su nam là 57,6%, thuốc tiêm 25,6%, thuốc uống 9,3%, dụng cụ tử cung (DCTC) 5,2%. Nghiên cứu tại Petrolina (Brazil, 2016) trên 1.275 sinh viên cho thấy 37% đã quan hệ tình dục và 65,6% dùng bao cao su lần gần nhất. Barbour B. và cộng sự (Li Băng, 2009) khảo sát thấy 73,3% nam sinh và 21,8% nữ sinh từng quan hệ tình dục, nhưng chỉ 23,5% nữ sinh được bảo vệ bằng BPTT. Zhou H. phân tích hồi quy logistic cho thấy hành vi tình dục liên quan chặt chẽ với giới tính (OR = 3,12; 95% CI: 2,39–4,11), hoàn cảnh gia đình (OR = 1,66; 95% CI: 1,15–2,38), điểm kiến thức (OR = 0,74) và thái độ (OR = 0,09).
2. Tài liệu tại Việt Nam
- Thực trạng qua các cuộc điều tra quốc gia: Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên lần 1 (SAVY1, 2003) và lần 2 (SAVY2, 2009) ghi nhận tỷ lệ quan hệ tình dục chưa kết hôn ở tuổi 14–17 tăng từ 1,1% (nam) và 0,2% (nữ) lên 2,2% (nam) và 0,5% (nữ). SAVY2 chỉ ra 3 lý do hàng đầu khiến người trẻ không dùng bao cao su: xấu hổ khi hỏi mua, sợ người quen nhìn thấy và phương tiện không sẵn có. Tỷ lệ dùng bao cao su trong lần quan hệ đầu tiên của nam là 72,7%, nhưng nữ dùng viên tránh thai khẩn cấp chỉ đạt 4,5%.
- Các công trình nghiên cứu chuyên ngành: Nghiên cứu tại 8 tỉnh, thành phố (1997) cho thấy gần 70% vị thành niên không dùng BPTT khi quan hệ tình dục. Nguyễn Văn Nghị (Hải Dương, 2006–2009) ghi nhận tuổi quan hệ tình dục đầu tiên ở nam là 16,2 và nữ là 17,2, chỉ 1/3 có bảo vệ. Nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai (2004) xác định nguyên nhân thất bại tránh thai là do sử dụng không liên tục (53,3%) và sử dụng sai cách (23,8%). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Phong và cộng sự tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương chỉ ra 14,1% trường hợp có dùng bao cao su nhưng vẫn có thai ngoài ý muốn; khảo sát tại Cao đẳng Y tế Hà Nội cho thấy dù 99,3% sinh viên biết tên ít nhất một BPTT, có tới 73,9% không biết chính xác thời điểm dùng viên tránh thai khẩn cấp và chỉ 41,1% biết cách uống thuốc hàng ngày.
3. Các mô hình can thiệp cộng đồng
Văn bản điểm lại các mô hình: Sáng kiến INSYGHT của tổ chức Save the Children (Ethiopia) với bộ công cụ YAK; dự án Youth to Youth (Malawi) với thẻ "condom card"; chương trình 100% bao cao su tại Thái Lan (tăng tỷ lệ dùng từ 14% lên trên 90%); các dự án tại Việt Nam như VIE/97/P01, VIE/97/P10, VIE/97/P19 (chương trình phát thanh "Cửa sổ tình yêu"), VIE/01/P11 (lồng ghép giáo dục vào trường học), dự án RHIYA, mô hình "Dấu hỏi xanh" của Pathfinder International.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra các chương trình can thiệp tại Việt Nam trước đây có các hạn chế:
- Tập trung chủ yếu vào truyền thông chung, thiếu hướng dẫn kỹ năng chuyên khoa sâu của ngành Sản phụ khoa (cơ chế, quy trình sử dụng từng bước, cách khắc phục sự cố tuột, rách bao cao su hay quên uống thuốc).
- Can thiệp chủ yếu nhắm vào học sinh phổ thông hoặc vị thành niên nói chung, bỏ ngỏ đối tượng sinh viên các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật, văn hóa – nhóm có nguy cơ cao khi sống độc lập tại các đô thị lớn.
- Can thiệp diện rộng nhưng thiếu chiều sâu chuyên môn, chưa kiểm soát được tính bền vững và chưa đo lường hiệu quả bằng bộ chỉ số hiệu quả can thiệp chuẩn hóa trên sinh viên kỹ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án áp dụng khung phân tích hành vi sức khỏe dựa trên mô hình KAP (Knowledge – Attitude – Practice):
- Khối kiến thức: Sự hiểu biết về cơ chế sinh lý thụ thai, chỉ định, chống chỉ định, quy trình sử dụng, hiệu quả và tác dụng phụ của các biện pháp tránh thai hiện đại (bao cao su, viên tránh thai phối hợp, viên progestin đơn thuần, thuốc tiêm, que cấy, viên tránh thai khẩn cấp, dụng cụ tử cung, triệt sản) và các biện pháp truyền thống (xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh, đo thân nhiệt, quan sát chất nhầy cổ tử cung).
- Khối thái độ: Quan điểm, niềm tin và sự chấp nhận đối với việc sử dụng BPTT, rào cản tâm lý e ngại khi mua hoặc thương thuyết sử dụng bao cao su với bạn tình.
- Khối thực hành: Hành vi lựa chọn, chuẩn bị sẵn có, thao tác kỹ thuật khi dùng phương tiện tránh thai và các xử trí khi gặp sự cố lâm sàng.
- Hệ thống các yếu tố ảnh hưởng: Được phân thành yếu tố bên trong (kiến thức cá nhân, niềm tin, giá trị sống, thái độ) và yếu tố bên ngoài (gia đình, nhà trường, bạn bè, nguồn lực kinh tế, yếu tố văn hóa, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chuyên khoa).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe có đối chứng, đánh giá trước và sau can thiệp:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Mục tiêu 1): Khảo sát toàn bộ sinh viên năm thứ nhất chính quy đủ tiêu chuẩn tại 06 trường đại học, cao đẳng tại Hà Nội trong năm 2014 nhằm xác định tỷ lệ đạt về kiến thức, thái độ, thực hành và phân tích các yếu tố liên quan bằng phương pháp thống kê y học.
- Nghiên cứu can thiệp cộng đồng (Mục tiêu 2): Thiết kế can thiệp giáo dục truyền thông sức khỏe kết hợp hướng dẫn kỹ năng lâm sàng tại Trường Cao đẳng Xây dựng số 1. Đánh giá sự thay đổi các chỉ số KAP thông qua so sánh thời điểm trước và sau can thiệp.
- Công cụ và kỹ thuật thu thập: Sử dụng bộ câu hỏi (BCH) cấu trúc tự điền chuẩn hóa, thảo luận nhóm (TLN) và quan sát thực hành kỹ năng.
- Xử lý số liệu và chỉ số thống kê: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê y học; áp dụng các thuật toán so sánh tỷ lệ ($\chi^2$), xác định mối liên quan bằng tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% (95% CI) và mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$. Đánh giá kết quả can thiệp thông qua chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ/HQCT).
| Nội dung phương pháp |
Mô tả chi tiết theo văn bản |
| Thiết kế nghiên cứu |
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp can thiệp giáo dục có so sánh trước - sau. |
| Đối tượng |
Sinh viên năm thứ nhất chính quy, tuổi 18–24 tại 6 trường ĐH/CĐ trên địa bàn Hà Nội. |
| Địa bàn điều tra |
ĐH Văn hóa, CĐ Nghệ thuật, ĐH Xây dựng, CĐ Xây dựng số 1, ĐH Kinh tế Quốc dân, CĐ Kinh tế Công nghiệp. |
| Địa bàn can thiệp |
Trường Cao đẳng Xây dựng số 1. |
| Chỉ số đánh giá chính |
Tỷ lệ % kiến thức đúng, thái độ tích cực, thực hành đúng; Chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ). |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 cung cấp cơ sở dịch tễ học và y học sinh sản về các biện pháp tránh thai, thực trạng KAP và các can thiệp can dự trên thế giới cũng như tại Việt Nam:
- Đặc tính kỹ thuật các biện pháp tránh thai hiện đại:
- Bao cao su (BCS): Hiệu quả lý thuyết đạt 99% (tỷ lệ thất bại do phương pháp là 3%), nhưng thất bại thực tế do người dùng lên tới 14%. Vật liệu latex có tỷ lệ thủng 1,1% và tuột 0,6%, trong khi vật liệu polyurethane nhạy cảm hơn nhưng tỷ lệ thủng là 7,2% và tuột là 3,6%. Luận án nêu rõ quy trình xử trí khi rách bao: rửa bộ phận sinh dục bằng nước sạch/chất diệt tinh trùng và dùng ngay viên tránh thai khẩn cấp.
- Thuốc viên tránh thai kết hợp (estrogen + progestin): Cơ chế tác dụng gồm ức chế phóng noãn, làm teo mỏng nội mạc tử cung và làm đặc chất nhầy cổ tử cung. Chống chỉ định phụ nữ $\ge 35$ tuổi hút thuốc $\ge 15$ điếu/ngày, bệnh mạch vành, tăng huyết áp nặng. Quy tắc xử trí quên thuốc: quên 1–2 viên cần uống bù ngay khi nhớ; quên từ 3 viên trở lên phải dùng biện pháp hỗ trợ trong 7 ngày kế tiếp.
- Biện pháp tránh thai khẩn cấp: Thuốc viên chỉ chứa progestin (loại 1 viên liều duy nhất hoặc 2 viên cách nhau 12 giờ) và dụng cụ tử cung khẩn cấp (đặt trong vòng 5 ngày sau giao hợp không bảo vệ hoặc sau rụng trứng). Tác dụng phụ gồm ra máu thấm giọt, buồn nôn; nếu nôn trong vòng 2 giờ phải uống lại liều khác.
- Dụng cụ tử cung (DCTC): Chỉ số Pearl của DCTC thế hệ hai là 0,5–3,0 và thế hệ ba là 0,05–0,1.
- Triệt sản nam/nữ: Hiệu quả trên 99%, hiện nay có khả năng phục hồi nhờ kỹ thuật vi phẫu và nội soi.
- Biện pháp tránh thai truyền thống và biện pháp khác:
- Các biện pháp truyền thống (xuất tinh ngoài, kiêng giao hợp định kỳ tính vòng kinh, theo dõi chất nhầy, đo thân nhiệt cơ bản tăng 0,2–0,5°C) có chỉ số thất bại Pearl lên đến 20.
- Các biện pháp khác: Màng ngăn âm đạo (lưu tối thiểu 6 giờ, tối đa 30 giờ), màng phim tránh thai (kích thước $5 \times 5\text{ cm}$), mũ cổ tử cung (lưu 6–8 giờ đến tối đa 72 giờ), miếng xốp âm đạo tẩm nonoxynol-9 (phóng thích 125mg diệt tinh trùng trong 24 giờ), thuốc diệt tinh trùng (chứa clorua benzalkonium, hexylresorcinol, nonoxynol-9), nhẫn tránh thai âm đạo (đặt 3 tuần), miếng dán tránh thai (dán 3 tuần, nghỉ tuần thứ 4).
- Tổng kết các nghiên cứu KAP và bài học can thiệp: Tác giả phân tích dữ liệu từ hàng loạt quốc gia (Mỹ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nigeria, Brazil, Nam Phi...) và các can thiệp tại Việt Nam, từ đó rút ra kết luận: Kiến thức của thanh niên thường cao hơn thực hành; việc hiểu biết sai về cách dùng và xử trí sự cố là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại tránh thai.
| Biện pháp tránh thai |
Cơ chế chính |
Chỉ số thất bại / Hiệu quả |
Tác dụng phụ / Hạn chế chính |
| Bao cao su nam |
Ngăn tinh trùng vào âm đạo |
Thất bại phương pháp: 3%; Thực tế: 14% |
Giảm khoái cảm, nguy cơ tuột/rách, dị ứng latex |
| Viên kết hợp hàng ngày |
Ức chế phóng noãn, đặc chất nhầy CTC |
Hiệu quả tránh thai ~99% |
Buồn nôn, căng vú, phụ thuộc việc uống hàng ngày |
| Viên khẩn cấp progestin |
Ngăn cản/làm chậm rụng trứng |
Uống trong 120h sau giao hợp |
Rối loạn kinh nguyệt, buồn nôn, không ngừa STDs |
| Dụng cụ tử cung |
Ngăn tinh trùng gặp noãn, chống làm tổ |
Chỉ số Pearl thế hệ 3: 0,05–0,1 |
Đau bụng, tăng lượng máu kinh, cần thủ thuật |
| Biện pháp truyền thống |
Tránh thời điểm rụng trứng, ngắt quãng |
Chỉ số thất bại Pearl = 20 |
Tỷ lệ có thai ngoài ý muốn rất cao |
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu và bối cảnh các trường tham gia:
- Đặc điểm các trường nghiên cứu:
- Trường Đại học Văn hóa Hà Nội: Thành lập năm 1959, quy mô tuyển sinh khoảng 1.500 chỉ tiêu đại học chính quy mỗi năm với 10 mã ngành.
- Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội: Thành lập năm 1967, tuyển sinh khoảng 250 chỉ tiêu cao đẳng chính quy mỗi năm với 14 mã ngành.
- Trường Đại học Xây dựng: Thành lập theo Quyết định số 144/CP ngày 8/8/1966, tuyển sinh khoảng 3.300 chỉ tiêu đại học chính quy mỗi năm với 13 mã ngành.
- Trường Cao đẳng Xây dựng số 1: Thành lập theo Quyết định số 128/QĐ-TTg ngày 28/5/1999 (tiền thân từ năm 1958), tuyển sinh khoảng 900 chỉ tiêu cao đẳng chính quy (08 ngành) và 100 chỉ tiêu liên thông.
- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: Thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25/1/1956, cơ sở đào tạo kinh tế trọng điểm.
- Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội: Cơ sở đào tạo khối ngành kinh tế và kỹ thuật công nghiệp.
- Quy trình triển khai: Chọn mẫu sinh viên năm nhất; thiết lập tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ rõ ràng; tổ chức thu thập phiếu điều tra ẩn danh để đảm bảo tính khách quan và bảo mật thông tin nhạy cảm về hành vi tình dục. Thiết kế chương trình can thiệp giáo dục truyền thông sức khỏe và thực hành kỹ năng lâm sàng tại Trường Cao đẳng Xây dựng số 1.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung Chương 3 tập trung giải quyết các mục tiêu khoa học đề ra thông qua các dữ liệu thực chứng:
- Thực trạng kiến thức của sinh viên: Phần lớn sinh viên biết tên các BPTT phổ biến như bao cao su và viên tránh thai khẩn cấp, nhưng tỷ lệ hiểu đúng cơ chế tác dụng, chỉ định và quy trình sử dụng chuẩn còn thấp; sự hiểu biết về cách xử trí khi quên thuốc hoặc sự cố rách bao cao su còn rất hạn chế.
- Thái độ đối với việc tránh thai: Tồn tại sự e ngại, xấu hổ khi tiếp cận, tìm mua bao cao su hoặc tìm kiếm tư vấn từ nhân viên y tế; nhiều sinh viên lo ngại thái quá về tác dụng phụ lâu dài của thuốc tránh thai lên khả năng sinh sản sau này.
- Thực hành tình dục và sử dụng BPTT: Phản ánh tỷ lệ quan hệ tình dục trong nhóm sinh viên năm thứ nhất, tỷ lệ có sử dụng BPTT trong lần quan hệ đầu tiên và lần quan hệ gần nhất. Tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên chưa cao, vẫn còn tình trạng dựa vào các biện pháp tự nhiên kém an toàn như xuất tinh ngoài âm đạo và tính ngày kinh.
- Các yếu tố liên quan: Kiến thức và thực hành tránh thai chịu ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê bởi các biến số: giới tính (nam sinh có tỷ lệ biết cách sử dụng bao cao su cao hơn nữ sinh, $p < 0,05$), ngành học/hệ đào tạo (sinh viên cao đẳng có tỷ lệ thực hành đúng cao hơn trung học, $p < 0,05$), nơi ở (ở cùng gia đình, ký túc xá hay thuê trọ bên ngoài) và nguồn thông tin tiếp cận.
- Hiệu quả giải pháp can thiệp tại Trường Cao đẳng Xây dựng số 1: So sánh các chỉ số trước và sau can thiệp cho thấy sự gia tăng rõ rệt về điểm số kiến thức đúng, tỷ lệ thái độ tích cực và kỹ năng thực hành đúng về bao cao su và thuốc tránh thai, thể hiện qua chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ) đạt mức ý nghĩa thống kê.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong nước (SAVY1, SAVY2, các nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong tại CĐ Y tế Hà Nội, Trần Xuân Hà, Nguyễn Trọng Bài) và quốc tế (Zhou H. tại Trung Quốc, Bello F. tại Nigeria, Miller L. tại Mỹ, Seutlwadi L. tại Nam Phi):
- Lý giải nguyên nhân sinh viên năm thứ nhất có sự chênh lệch giữa kiến thức lý thuyết và thực hành thực tế do ảnh hưởng của định kiến xã hội và sự thiếu vắng các phòng tư vấn chuyên khoa tại trường học.
- Bàn luận về tính khả thi của mô hình can thiệp truyền thông trực tiếp kết hợp hướng dẫn thực hành kỹ năng chuyên ngành Sản phụ khoa trong môi trường các trường cao đẳng, đại học kỹ thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp bức tranh toàn diện, cập nhật về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh thai của sinh viên năm thứ nhất tại 06 trường đại học, cao đẳng đại diện cho nhiều khối ngành đào tạo khác nhau (kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật) tại thành phố Hà Nội năm 2014.
- Làm rõ mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, môi trường sống, khối ngành đào tạo với mức độ hiểu biết và hành vi sử dụng BPTT của sinh viên.
- Chứng minh tính ứng dụng của mô hình tích hợp kiến thức chuyên khoa Sản phụ khoa vào công tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản học đường, vượt lên trên các mô hình truyền thông đại chúng đơn thuần.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng và thử nghiệm thành công mô hình can thiệp giáo dục truyền thông sức khỏe sinh sản và tránh thai trực tiếp cho sinh viên Trường Cao đẳng Xây dựng số 1, đem lại sự cải thiện rõ rệt về chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ).
- Đưa ra bằng chứng thực nghiệm khẳng định việc hướng dẫn kỹ năng thực hành cụ thể (cách đeo, tháo bao cao su trên mô hình, cách xử trí quên uống thuốc, xử trí sự cố rách bao) giúp sinh viên vượt qua rào cản tâm lý e ngại.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án
- Đối với các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng: Cần phối hợp với các cơ sở y tế chuyên ngành Sản phụ khoa để định kỳ tổ chức các buổi tư vấn, hướng dẫn kỹ năng thực hành tránh thai an toàn cho sinh viên ngay từ khi nhập học năm thứ nhất.
- Đối với công tác y tế học đường: Thành lập các "Góc thân thiện" hoặc phòng tư vấn sức khỏe sinh sản trong khuôn viên trường học nhằm cung cấp thông tin, bao cao su và tờ rơi hướng dẫn kỹ thuật một cách kín đáo, dễ tiếp cận.
- Đối với ngành Sản phụ khoa: Cần mở rộng phạm vi truyền thông lâm sàng ra ngoài khuôn viên bệnh viện, đưa kiến thức kỹ thuật tránh thai chuyên sâu tiếp cận trực tiếp các nhóm thanh niên đô thị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu chỉ tập trung vào đối tượng sinh viên năm thứ nhất hệ chính quy tại 06 trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội; chưa mở rộng sang sinh viên các năm cuối hoặc hệ vừa làm vừa học, liên thông.
- Phạm vi can thiệp: Mô hình can thiệp chuyên sâu mới chỉ được triển khai và đánh giá tại một cơ sở đào tạo duy nhất là Trường Cao đẳng Xây dựng số 1, chưa thực hiện can thiệp so sánh đồng thời ở các trường khối văn hóa nghệ thuật hoặc kinh tế.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Do tính chất nhạy cảm của các câu hỏi về hành vi tình dục và nạo phá thai, việc sử dụng bộ câu hỏi tự điền vẫn tiềm ẩn nguy cơ sai số do đối tượng che giấu hoặc trả lời theo xu hướng xã hội mong muốn.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các trường đại học, cao đẳng ở các tỉnh, thành phố khác hoặc khu vực nông thôn, miền núi để có dữ liệu so sánh đa dạng về mặt địa lý.
- Nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá sự duy trì bền vững của kiến thức, thái độ và thực hành tránh thai của sinh viên từ năm thứ nhất cho đến khi tốt nghiệp ra trường sau khi được can thiệp.
- Triển khai thử nghiệm mô hình tư vấn sức khỏe sinh sản trực tuyến kết hợp chuyên gia sản phụ khoa phù hợp với xu hướng chuyển đổi số của giới trẻ.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và phương pháp luận cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Sản phụ khoa, Y tế công cộng, Dịch tễ học: Tham khảo cách thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa mô tả cắt ngang và can thiệp cộng đồng; phương pháp tính toán chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ/HQCT) và cách xây dựng bộ câu hỏi KAP chuẩn hóa.
- Giảng viên và cán bộ quản lý công tác sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng: Cung cấp tài liệu tham khảo để xây dựng nội dung tuần sinh hoạt công dân đầu khóa, các buổi sinh hoạt chuyên đề ngoại khóa về sức khỏe sinh sản và kỹ năng sống cho tân sinh viên.
- Cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên: Tham khảo mô hình truyền thông đồng đẳng và các hình thức can thiệp thực hành trực quan nhằm nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe cho đoàn viên, thanh niên.
- Các nhà hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình: Dữ liệu thực chứng của luận án hỗ trợ xây dựng các chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên giai đoạn tiếp theo sát với thực tiễn môi trường học đường đô thị.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chọn đối tượng nghiên cứu cụ thể là ai và thực hiện tại những trường nào?
Luận án nghiên cứu trên đối tượng sinh viên năm thứ nhất, hệ chính quy, trong độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi tại 06 cơ sở đào tạo ở Hà Nội: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng, Trường Cao đẳng Xây dựng số 1, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội.
2. Theo tổng quan tài liệu trong luận án, nguyên nhân chính dẫn đến thất bại khi sử dụng các biện pháp tránh thai là gì?
Dẫn theo công trình của GS. Trần Thị Phương Mai (2004), luận án chỉ ra hai nguyên nhân chính gây thất bại khi dùng BPTT:
- Sử dụng không liên tục (chiếm 53,3%).
- Sử dụng sai cách thức kỹ thuật (chiếm 23,8%).
3. Tỷ lệ thất bại do người sử dụng đối với bao cao su được luận án ghi nhận là bao nhiêu?
Theo tài liệu tổng quan y học của luận án, nếu bao cao su được sử dụng hoàn toàn đúng cách thì tỷ lệ thất bại đặc hiệu của phương pháp chỉ là 3%. Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng kỹ thuật và không dùng thường xuyên trong thực tế, tỷ lệ thất bại do người sử dụng lên tới 14%.
4. Luận án ghi nhận sự khác biệt nào có ý nghĩa thống kê về kiến thức và kỹ năng sử dụng bao cao su theo giới tính?
Trích dẫn nghiên cứu khảo sát trước đó của chính tác giả Nguyễn Thanh Phong và cộng sự trên sinh viên năm thứ nhất tại Hà Nội, tỷ lệ sinh viên nam biết đúng cách sử dụng bao cao su đạt 55,2%, cao hơn đáng kể so với sinh viên nữ là 36%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với $p < 0,05$.
5. Trường nào được lựa chọn để triển khai và đánh giá giải pháp can thiệp trong luận án?
Địa bàn triển khai thử nghiệm và đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp giáo dục truyền thông sức khỏe sinh sản và kỹ năng tránh thai là Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 (thuộc Bộ Xây dựng, đóng trên địa bàn Hà Nội).
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thanh Phong là công trình nghiên cứu chuyên ngành Sản phụ khoa kết hợp dịch tễ học thực địa, phản ánh toàn diện thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên năm thứ nhất tại 06 trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội năm 2014. Tác giả đã phân tích hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi tránh thai, chỉ ra khoảng cách lớn giữa hiểu biết lý thuyết và kỹ năng thao tác thực tế của sinh viên. Công trình đã triển khai thành công mô hình can thiệp giáo dục sức khỏe kết hợp kỹ năng lâm sàng tại Trường Cao đẳng Xây dựng số 1, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện các chỉ số KAP. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn quan trọng phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản học đường và xây dựng chính sách kế hoạch hóa gia đình cho thanh niên đô thị.