Luận án tiến sĩ: Kiến thức và thái độ của sinh viên về biện pháp tránh thai tại Hà Nội

Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về biện pháp tránh thai của sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng Hà Nội.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

213
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CHỮ VIẾT TẮT

1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

2. TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

3. ĐẶT VẤN ĐỀ

4. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Các biện pháp tránh thai

1.1.1. Các biện pháp tránh hiện đại

1.1.1.1. Bao cao su
1.1.1.2. Thuốc tránh thai
1.1.1.3. Các biện pháp tránh thai khẩn cấp
1.1.1.4. Dụng cụ tử cung
1.1.1.5. Triệt sản nam, nữ

1.1.2. Các biện pháp tránh thai truyền thống

1.1.2.1. Xuất tinh ngoài âm đạo (giao hợp ngắt quãng)
1.1.2.2. Kiêng giao hợp định kỳ
1.1.2.2.1. Phương pháp tính vòng kinh
1.1.2.2.2. Phương pháp ghi chất nhầy cổ tử cung
1.1.2.2.3. Phương pháp ghi thân nhiệt

1.1.3. Các biện pháp tránh thai khác

1.1.3.1. Màng ngăn âm đạo
1.1.3.2. Mũ cổ tử cung
1.1.3.3. Miếng xốp âm đạo
1.1.3.4. Thuốc diệt tinh trùng
1.1.3.5. Nhẫn tránh thai

Tóm tắt

I. Kiến thức về biện pháp tránh thai

Nghiên cứu cho thấy kiến thức về biện pháp tránh thai của sinh viên tại Hà Nội còn hạn chế. Chỉ 32,1% sinh viên sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục. Điều này cho thấy sự thiếu hụt trong thông tin về biện pháp tránh thaigiáo dục giới tính. Theo thống kê, nhiều sinh viên không biết cách sử dụng bao cao su đúng cách, dẫn đến tỷ lệ có thai ngoài ý muốn cao. Việc thiếu kiến thức này có thể do chương trình giáo dục giới tính chưa được triển khai hiệu quả tại các trường học. Một nghiên cứu của Quỹ Dân số Liên hợp quốc chỉ ra rằng, nhiều thanh niên cảm thấy xấu hổ khi hỏi mua bao cao su, điều này càng làm tăng nguy cơ có thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs).

1.1. Thông tin về biện pháp tránh thai

Thông tin về biện pháp tránh thai cần được cung cấp đầy đủ và chính xác. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên thường không biết đến các biện pháp hiện đại như thuốc tránh thai khẩn cấp hay dụng cụ tử cung. Việc thiếu thông tin này dẫn đến việc sinh viên không sử dụng biện pháp tránh thai hoặc sử dụng sai cách. Cần có các chương trình truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức và cung cấp thông tin chính xác về biện pháp tránh thai cho sinh viên.

II. Thái độ của sinh viên về biện pháp tránh thai

Thái độ của sinh viên về biện pháp tránh thai có sự phân hóa rõ rệt. Một số sinh viên có thái độ tích cực và sẵn sàng sử dụng biện pháp tránh thai, trong khi một số khác lại có những quan niệm sai lầm về việc sử dụng. Nghiên cứu cho thấy rằng thái độ này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như văn hóa, gia đình và môi trường học tập. Một số sinh viên cho rằng việc sử dụng biện pháp tránh thai là không cần thiết, dẫn đến việc họ không thực hiện các biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục. Điều này cho thấy cần có sự can thiệp từ các chương trình giáo dục sức khỏe để thay đổi thái độ của sinh viên về biện pháp tránh thai.

2.1. Thái độ xã hội về tránh thai

Thái độ xã hội về tránh thai cũng ảnh hưởng đến quyết định của sinh viên. Nhiều sinh viên cảm thấy áp lực từ bạn bè và xã hội khi quyết định sử dụng biện pháp tránh thai. Một số sinh viên cho rằng việc sử dụng biện pháp tránh thai là dấu hiệu của sự không chung thủy hoặc thiếu trách nhiệm. Điều này cho thấy cần có sự thay đổi trong nhận thức xã hội về biện pháp tránh thai để sinh viên có thể tự tin hơn trong việc bảo vệ sức khỏe sinh sản của mình.

III. Thực hành sử dụng biện pháp tránh thai

Thực hành sử dụng biện pháp tránh thai của sinh viên tại Hà Nội cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Chỉ một phần nhỏ sinh viên thực hiện đúng các biện pháp tránh thai. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều sinh viên không sử dụng bao cao su đúng cách hoặc không sử dụng thường xuyên. Điều này dẫn đến tỷ lệ có thai ngoài ý muốn và mắc STDs cao. Cần có các chương trình can thiệp để nâng cao kỹ năng thực hành sử dụng biện pháp tránh thai cho sinh viên. Việc tổ chức các buổi hội thảo, lớp học về sức khỏe sinh sản có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về cách sử dụng và lợi ích của biện pháp tránh thai.

3.1. Hành vi tình dục của sinh viên

Hành vi tình dục của sinh viên cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng biện pháp tránh thai. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều sinh viên có quan hệ tình dục nhưng không sử dụng biện pháp bảo vệ. Điều này có thể do thiếu kiến thức, thái độ tiêu cực hoặc áp lực từ bạn bè. Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản để giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc sử dụng biện pháp tránh thai trong việc bảo vệ sức khỏe sinh sản.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Các biện pháp tránh thai Tránh thai là một nội dung quan trọng trong chăm sóc SKSS. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong năm 2015, 64% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế giới có sử dụng một BPTT, 57% sử dụng một BPTT hiện đại [11]. Tại Việt Nam, theo tổng cục Dân số­ kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại và truyền thống năm 2013 lần lượt là 67% và 10,2% [12].

Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Dân số và sức khỏe nông thôn (2006), dụng cụ tử cung là biện pháp được nhiều người sử dụng nhất (32,3%), tiếp đến là thuốc tránh thai (15,2%) và bao cao su (14,4%) [13]. Các BPTT được chia làm 2 loại chính là: các BPTT hiện đại và các BPTT truyền thống. Các biện pháp tránh hiện đại 1. Bao cao su * Đại cương: 11 Bao cao su (BCS) là BPTT an toàn, có hiệu quả phòng chống HIV/AIDS và STDs.

BCS được dùng nhiều ở các nước phát triển (13%) hơn các nước đang phát triển (3%) [14]. Nếu sử dụng BCS đúng, khả năng có thai khi dùng là 3% (thất bại đặc hiệu của phương pháp). Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng và không thường xuyên, tỷ lệ này lên đến 14% (thất bại do người sử dụng) [14]. Đa số BCS hiện nay được làm bằng nhựa latex hoặc polyurethane.

BCS bằng polyurethane nhạy cảm hơn BCS bằng latex nhưng tỷ lệ thủng và tuột cao hơn (lần lượt là 7,2% và 3,6% so với 1,1% và 0,6%) [15]. * Cơ chế tác dụng: Bao cao su có tác dụng chứa và ngăn không cho tinh trùng vào âm đạo nên không xảy ra quá trình thụ tinh [15]. Một số loại bao cao su [11] * Chỉ định và chống chỉ định: + Chỉ định: dùng cho tất cả các trường hợp muốn tránh thai; phòng chống HIV/AIDS và STDs; là biện pháp tránh thai hỗ trợ (những ngày đầu sau thắt ống dẫn tinh, quên uống thuốc tránh thai). + Chống chỉ định: dị ứng với latex (đối với loại bao cao su có latex) hoặc các thành phần có trong bao cao su [16], [17].

* Ưu điểm và hạn chế: 12 + Ưu điểm: hiệu quả tránh thai cao 99%; phòng chống STDs và HIV/AIDS; an toàn, không có tác dụng phụ; dễ sử dụng; có thể sử dụng bất cứ thời gian nào; giúp nam giới có trách nhiệm KHHGĐ; tiện lợi khi muốn tránh thai tạm thời; có sẵn, nhỏ gọn có thể mang theo người; rẻ tiền [16]. + Hạn chế: phải luôn sẵn có; có thể bị tuột, rách trong khi đang giao hợp nếu bảo quản không tốt; có một số trường hợp dị ứng với cao su; một số cặp vợ chồng than phiền về mức độ giảm khoái cảm; đối với bao cao su nữ, người dùng phải biết cách sử dụng tốt thì mới tránh được thất bại [18], [19]. * Cách sử dụng và bảo quản: ­ Kiểm tra trước về sự nguyên vẹn của bao cao su và hạn sử dụng. ­ Mỗi lần giao hợp đều phải sử dụng bao cao su mới.

­ Bảo quản bao cao su: để nơi thoáng mát và tránh ánh sáng. ­ Xé vỏ bao đúng cách, lấy bao ra khỏi vỏ. ­ Luôn để vành cuộn của bao ra ngoài, lùa khí ra khỏi đầu bao. ­ Lồng bao cao su vào dương vật đang cương trước khi giao hợp.

­ Tháo cuộn vành bao lên tới gốc dương vật, không cần kéo căng. ­ Sau khi xuất tinh, rút dương vật ra lúc còn cương, giữ chặt vành bao cao su ở gốc dương vật trong khi rút dương vật ra để bao khỏi bị tuột và tinh dịch không trào ra ngoài. ­ Chỉ sử dụng mỗi bao cao su 1 lần. 13 * Những sự cố khi sử dụng và cách xử trí: + Nếu bao cao su bị rách: Rửa dương vật và âm hộ bằng nước sạch hoặc thuốc diệt tinh trùng (nếu có).

Cần áp dụng BPTT khẩn cấp như sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp. + Nếu có ngứa hoặc nổi ban tại bộ phận sinh dục: Đi khám để được các nhân viên y tế tư vấn. + Nam giới không duy trì được độ cương khi mang hoặc sử dụng bao cao su: Thường do bối rối, chưa quen sử dụng. Có thể dùng bao cao su có chất bôi trơn hoặc sử dụng nước/chất bôi trơn bên ngoài bao [20], [21].

Thuốc tránh thai Đây là BPTT được sử dụng rộng rãi, khoảng 20% phụ n ữ sử dụng thuốc tránh thai ở các nước phát triển, 28% ở châu Mỹ và 50% ở Bắc Phi [17]. Cơ chế tác dụng: ức chế phóng noãn; ức chế phát triển nội mạc tử cung; làm đặc chất nhầy cổ tử cung ngăn tinh trùng xâm nhập vào buồng tử cung [22]. * Thuốc viên tránh thai kết hợp: Hình 1. Một số loại viên thuốc tránh thai hàng ngày [11] + Đại cương: 14 Viên thuốc tránh thai (VTTT) có chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin được gọi là VTTT kết hợp.

Đây là BPTT tạm thời, không giúp ngăn ngừa STDs và HIV/AIDS [20]. + Chỉ định và chống chỉ định: ­ VTTT kết hợp được chỉ định cho phụ nữ muốn sử dụng một BPTT hiệu quả cao và không có chống chỉ định. ­ Chống chỉ định: có thai hoặc nghi ngờ có thai; đang cho con bú trong vòng 6 tuần sau sinh; lớn tuổi (≥ 35 tuổi) và hút thuốc ≥ 15 điếu/ngày; có nguy cơ bị bệnh mạch vành; tăng huyết áp nặng. + Ưu điểm và hạn chế: ­ Ưu điểm: tránh thai theo thời hạn tùy mong muốn; hiệu quả tránh thai cao (khoảng 99%); an toàn cho phần lớn phụ nữ; có thể có thai sau khi dừng thuốc; giảm nguy cơ mắc: ung thư phụ khoa, chửa ngoài tử cung; tạo vòng kinh đều; có thể sử dụng ở bất kỳ tuổi nào; không ảnh hưởng đến tình dục.

­ Hạn chế: phải phụ thuộc vào việc phải uống hàng ngày; phải có dịch vụ cung cấp thuốc đầy đủ, đều đặn; làm giảm tiết sữa khi cho con bú; có một số tác dụng không mong muốn thường gặp trong 3 tháng đầu; không phòng tránh được STDs [20], [23]. + Thời điểm sử dụng: ­ VTTT kết hợp được uống trong vòng 5 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh hoặc ở bất cứ thời điểm nào nếu biết chắc là không có thai. ­ Uống mỗi ngày 1 viên, vào giờ nhất định. Khi hết vỉ thuốc, uống viên đầu tiên của vỉ tiếp theo vào ngày hôm sau dù đang còn kinh (với vỉ 28 viên) hoặc nghỉ 7 ngày rồi dùng tiếp vỉ sau, dù đang còn kinh (với vỉ 21 viên) [20].

15 + Cách xử trí khi quên thuốc hoặc nôn sau uống thuốc: ­ Quên uống viên thuốc có nội tiết (từ tuần 1 đến tuần 3):. Nếu quên 1 hoặc 2 viên: uống một viên ngay khi nhớ ra và tiếp tục uống một viên/ngày như thường lệ. Nếu quên từ 3 viên trở lên: uống một viên thuốc ngay khi nhớ ra và tiếp tục uống thuốc như thường lệ, cần thêm BPTT hỗ trợ trong 7 ngày kế tiếp. ­ Quên uống viên thuốc nhắc (từ viên thứ 22 đến viên thứ 28): bỏ viên thuốc quên, uống tiếp viên thuốc kế tiếp.

­ Nôn trong vòng 2 giờ sau uống thuốc; nôn nhiều và tiêu chảy sau uống thuốc: cần tiếp tục uống như thường lệ, đồng thời áp dụng BPTT hỗ trợ trong 7 ngày sau khi ngừng nôn, tiêu chảy [20], [23]. + Tác dụng không mong muốn: ­ Thường gặp vào 03 tháng đầu và giảm dần như: buồn nôn; cương vú do estrogen; đau đầu nhẹ; ra máu âm đạo thấm giọt hoặc chảy máu ngoài kỳ kinh; không ra máu kinh nguyệt hoặc hành kinh ít. ­ Các dấu hiệu báo động: đau đầu nặng; đau dữ dội vùng bụng; đau nặng vùng ngực; đau nặng ở bắp chân; có các vấn đề về mắt (mất thị lực, nhìn nhòe, nhìn một thấy hai) và vàng da [16], [20], [24]. * Viên thuốc tránh thai chỉ có progestin liều nhỏ: Đây là BPTT tạm thời, chứa một lượng nhỏ progestin, không có estrogen.

Thuốc đặc biệt thích hợp với phụ nữ đang cho con bú; phụ nữ có chống chỉ định với thuốc tránh thai phối hợp [20], [23]. * Thuốc tiêm và thuốc cấy tránh thai: Đây là hai BPTT tạm thời, chứa nội tiết progestin. Hai biện pháp này có BPTT có hiệu quả cao (99,6%) [14], [20], [23]. Các biện pháp tránh thai khẩn cấp * Đại cương: Biện pháp tránh thai khẩn cấp được sử dụng sau khi giao hợp không được bảo vệ, gồm có: viên thuốc tránh thai (VTTT) và dụng cụ tử cung.

BPTT này không giúp ngăn ngừa STDs và HIV/AIDS. Cơ chế tác dụng: ức chế và làm chậm sự phóng noãn; ngăn cản sự làm tổ của trứng đã thụ tinh [20]. * Chỉ định: Giao hợp không được bảo vệ; sự cố khi sử dụng BPTT khác như: thủng bao cao su, chưa có vỉ thuốc uống tiếp theo, chưa tiêm mũi tránh thai khác khi mũi tiêm trước đã hết tác dụng; sau khi bị cưỡng hiếp. * Thời điểm sử dụng: Sử dụng BPTT khẩn cấp càng sớm càng tốt trong vòng 5 ngày (120 giờ) sau giao hợp không được bảo vệ.

Nếu biết chắc ngày rụng trứng, đặt dụng cụ tử cung (DCTC) để tránh thai khẩn cấp có thể được thực hiện trong vòng 5 ngày sau rụng trứng [20], [25]. * Cách sử dụng: + Viên thuốc tránh thai: Hình 1. Một số loại viên thuốc tránh thai khẩn cấp [23] ­ Viên thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ chứa progestin: 17. Loại một viên: uống một viên (liều duy nhất).

Loại 02 viên: uống hai lần, mỗi lần một viên cách nhau 12 giờ hoặc uống một lần cả 02 viên. ­ Viên thuốc tránh thai kết hợp (nếu không có viên thuốc tránh thai khẩn cấp): uống 2 lần cách nhau 12 giờ; mỗi lần 4 viên. + Dụng cụ tử cung: đây là lựa chọn thích hợp cho những khách hàng muốn tiếp tục sử dụng DCTC tránh thai [20], [25]. * Tác dụng không mong muốn: Ra huyết âm đạo bất thường, buồn nôn, nôn, căng ngực, nhức đầu và chóng mặt.

* Những sự cố khi sử dụng tránh thai khẩn cấp: + Chậm kinh: cần thử thai hoặc tái khám tại cơ sở y tế nếu chậm kinh. Không có bằng chứng về nguy cơ đến thai khi sử dụng VTTT khẩn cấp. + Nôn trong vòng 2 giờ sau uống thuốc: uống lại liều thuốc tránh thai khẩn cấp càng sớm càng tốt; có thể sử dụng thuốc chống nôn trước khi uống liều lặp lại cho những khách hàng uống VTTT kết hợp. + Ra máu thấm giọt: đây không phải dấu hiệu bất thường, sẽ tự hết không cần điều trị [20], [25].

Dụng cụ tử cung Dụng cụ tử cung (DCTC) là một BPTT tạm thời và hiệu quả. Nghiên cứu của Seutlwadi L. và cộng sự (cs) (2012) cho thấy có 5,2% phụ nữ từ 18­ 24 tuổi tại Nam Phi sử dụng DCTC [26].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu kiến thức và thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên tại Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức và thái độ của sinh viên đối với các biện pháp tránh thai. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về mức độ hiểu biết của sinh viên mà còn chỉ ra những khoảng trống trong kiến thức và thái độ mà họ cần cải thiện. Điều này có thể giúp các nhà giáo dục và tổ chức y tế thiết kế các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản hiệu quả hơn, từ đó nâng cao nhận thức và bảo vệ sức khỏe cho thế hệ trẻ.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến sức khỏe sinh sản và giáo dục, hãy tham khảo bài viết Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay, nơi nghiên cứu nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh. Bên cạnh đó, bài viết Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách mà giới tính ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe. Cuối cùng, bài viết Quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh các trường trung học cơ sở sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản hiện tại. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực quan trọng này.