ĐẶT VẤN ĐỀ Biện pháp tránh thai còn được gọi là biện pháp ngừa thai và kiểm soát sinh sản, là một phương pháp hoặc thiết bị được sử dụng để tránh thai Việc sử dụng các biện pháp tránh thai, cũng như tiếp cận với các dịch vụ tốt sẽ giúp các cặp đôi chủ động được số con mong muốn, thực hiện tốt chương trình Dân số - KHHGĐ. Tăng cường sử dụng các BPTT giúp giảm tỷ lệ nạo phá thai và nâng cao sức khỏe cho các cặp vợ chồng.5 triệu trẻ em được sinh ra với số phụ nữ tuổi sinh đẻ (18-49) ở Việt Nam tiếp tục gia tăng và đạt đỉnh vào năm 2030 (1). Việc sử dụng các BPTT có những lợi ích như: Ngăn ngừa việc có thai ngoài ý muốn và những rủi ro về sức khỏe do quá trình mang thai và sinh đẻ của phụ nữ: Góp phần giảm tử vong trẻ em; Góp phần giảm tử vong bà mẹ; Giúp phòng chống HIV/AIDS; Trao quyền và tăng cơ hội giáo dục, lao động, kinh tế, vị thế phụ nữ trong gia đình và xã hội; Giảm mang thai ở tuổi vị thành niên; Điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số. Các đối tác phát triển của Liên Hợp Quốc cũng đưa ra các sáng kiến, chương trình phối hợp với chính phủ các nước nhằm nỗ lực đạt được SDGs 2030 như FP 2020 đã tập trung vào 69 nước nghèo nhất trên thế giới hay tổ chức liên chính phủ Các Đối tác Dân số và Phát triển - PPD - cũng chung tay hành động Chiến lược toàn cầu vì sức khỏe của Phụ nữ, Trẻ em và Vị thành niên (2016-2030).
Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc trong báo cáo năm 2017 cũng nhấn mạnh đến việc bảo vệ các quyền của phụ nữ và trẻ em gái thông qua các Chương trình hành động ICPD, SDGs và nhấn mạnh rằng, những vấn đề này không thể giải quyết được nếu không gắn với các vấn đề phát triển khác như xóa bỏ đói nghèo. Công tác dân số - KHHGĐ đã bắt đầu từ năm 1960, trải qua hơn nữa thế kỷ và với quyết tâm của Đảng, nhà nước và với sự ý thức của toàn dân tự nguyện tham gia vào chương trình dân số-KHHGĐ, bên cạnh đó cùng với sự cố gắng không ngừng của đội ngũ làm công tác dân số mà trong thời gian qua đã đạt được kết quả đáng kể. Đáp ứng nhu cầu các biện pháp KHHGĐ hiện đại sẽ cứu sống được nhiều phụ nữ do ngăn chặn được gần 67 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn và giảm được 1/3 nguy cơ tử vong mẹ hàng năm tức giảm khoảng 100.000 ca (trong tổng số 303.000 ca chết toàn cầu trong 1 năm) (2, 3). Hiện nay tỷ lệ tiếp cận với các dịch vụ CSSKSS còn thấp nhu cầu chưa được đáp ứng với các dịch vụ còn cao ở khu vực miền, vùng 2 cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư.
Nguyên nhân do khó khăn về địa lý, rào cản ngôn ngữ, do phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt, cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ y tế. Trong năm 2017 tỷ lệ sinh con thứ 3 toàn quốc là 15,8%, trong đó tỷ lệ người DTTS sinh con thứ 3 là 14,85%, tổng tỷ suất sinh là 2,38% con/phụ nữ, tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng sử dụng BPTT là 76% (4). Theo báo cáo của quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc năm 2015, có 64% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế giới có sử dụng một BPTT, 57,4% sử dụng một BPTT hiện đại (2); Theo một nghiên cứu của Đoàn Khải Hoàn Năm 2004 nghiên cứu trên 400 phụ nữ thuộc các dân tộc tày, Thái, Mông, Dao ở tỉnh Yên Bái thì những rào cản trong tiếp cận dịch vụ KHHGĐ bao gồm thiếu bảo hiểm, chi phí cao và từ chối thuốc phụ nữ có thu nhập thấp đối mặt với những rào cản trong việc thực hiện các BPTT và theo UNFPA năm 2017 nghiên cứu về những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và kế hoạch hóa gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam (5, 6). Thị xã Bình Minh được thành lập cuối năm 2012 là là một trong 8 đơn vị cấp huyện của tỉnh Vĩnh Long.
Thị xã có tổng diện tích tự nhiên khoảng 9400 ha với 8 xã/phường. Tổng dân số năm 2020 của thị xã đạt 95.100 người với mật độ khoảng 950 người/km2. Thị xã nằm trên tuyến đường thủy quan trọng của tiểu vùng MêKông trên sông Hậu. Thị xã Bình Minh có 3 dân tộc anh em sinh sống bao gồm: Kinh, Hoa, Khmer.
Dân tộc Khmer với dân số khoảng 5.898 người chiếm 6,4% dân số của toàn thị xã, phụ nữ dân tộc Khmer 18-49 tuổi có chồng là 1.055 người họ sống rải rác khắp các xã/phường của thị xã Bình Minh, trong năm 2017 tỷ lệ sinh con thứ 3 của dân tộc này là 13,69%; đang sử dụng BPTT là 721 người chiếm tỷ lệ 68%(7). Bên cạnh những kết quả đạt được thị xã Bình Minh còn gặp nhiều khó khăn thách thức trong công tác DS-KHHGĐ, do điều kiện kinh tế người dân tộc nơi đây còn khó khăn, trình độ học vấn còn thấp, họ chưa có nhiều điều kiện để chăm sóc sức khỏe sinh sản nói chung và không có điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như các dịch vụ tư vấn sử dụng các BPTT an toàn và phù hợp với sinh lý của từng người. Để có thông tin về việc sử dụng các BPTT của phụ nữ Khmer, học viên nghiên cứu: “Thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ Khmer 18-49 tuổi có chồng tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2021” 3 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ Khmer từ 18 - 49 tuổi có chồng tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2021 2.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến sử dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ Khmer từ 18 - 49 tuổi có chồng tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2021 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm dùng trong nghiên cứu Biện pháp tránh thai Biện pháp tránh thai (BPTT) “là các biện pháp can thiệp tác động lên cá thể hoặc vợ chồng nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ. Các BPTT thường được áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cắt đứt đường đi nhằm ngăn cản trứng gặp tinh trùng giúp cho cá nhân và các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ”. KHHGĐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn các BPTT để tránh thai mà còn là cả các nỗ lực trong chọn thời điểm và số con mong muốn (8).
Biện pháp tránh thai hiện đại Có hai loại biện pháp tránh thai hiện đại: (1) Các BPTT lâm sàng: Là khi thực hiện thì cần sự trợ giúp của cán bộ y tế bao gồm các BPTT như: Triệt sản nam, triệt sản nữ, dụng cụ tử cung và thuốc tiêm tránh thai, v. Biện pháp tránh thai truyền thống Biện pháp tránh thai truyền thống là “những BPTT không sử dụng phương tiện, thuốc men mà hoàn toàn phụ thuộc sự nỗ lực và hiểu biết của các cá nhân” (11). Kế hoạch hóa gia đình Là “sự chủ động lựa chọn các biện pháp tránh thai để thực hiện KHHGĐ nhằm điều chỉnh số con và có con theo ý muốn đồng thời điều chỉnh được khoảng cách giữa các lần sinh không để dẫn tới phá thai hoặc đẻ quá nhiều con, đẻ quá dày, đẻ khi còn quá trẻ hoặc đẻ khi đã nhiều tuổi. KHHGĐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn hay không lựa chọn BPTT để tránh thai mà còn là sự cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con trong trường hợp khuyến khích sinh” (12).
Chƣơng trình KHHGĐ hiện nay Trong Hội nghị Nhân Quyền Quốc tế năm 1968 ở Iran, lần đầu tiên KHHGĐ được khẳng định là quyền của con người. Và quyền này cần phổ biến cho tất cả người trên thế giới bao gồm: quyền sinh sản, quyền lựa chọn số con và quyền sinh 6 con vào thời điểm mong muốn. Tuy vậy, cho đến nay, quyền KHHGĐ vẫn chưa được tất cả các quốc gia triển khai đầy đủ (13). Hiện nay, hơn 200 triệu phụ nữ có nhu cầu nhưng không tiếp cận hay sử dụng BPTT phù hợp.
Trong hơn 1,9 tỷ phụ nữ tuổi sinh đẻ toàn cầu, chỉ mới có khoảng 1,1 tỷ phụ nữ đang sử dụng BPTT và chỉ khoảng 900 triệu là dùng BPTT hiện đại. Và hậu quả không mong muốn là tỷ lệ sinh con ngoài ý muốn và nạo phá thai cũng như hậu quả liên quan tới sinh sản vẫn xảy ra phổ biến. Tại Việt Nam, tiếp cận với BPTT tương đối dễ dàng thông qua chương trình DS-KHHGĐ được triển khai từ những năm 1961 và gần đây nhất là đa dạng hoá BPTT và mạng lưới cung cấp (miễn phí, bán rẻ, bán theo giá thị trường phương tiện, dịch vụ). Chương trình KHHGĐ đã đạt được những thành tựu vượt bậc khi tăng mạnh từ 15% lên hơn 5 lần đạt 75% trong giai đoạn từ thập kỷ những năm 1960 đến nay (13).
Ghi nhận thành tựu này, ngay từ năm 1999, Liên Hợp Quốc đã trao Giải thưởng Dân số cho Việt Nam. Chính vì vậy, tiếp tục quán triệt nội dung của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, bảo đảm thống nhất nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của toàn xã hội về chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển(14) và đã nêu quan điểm: “Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”(13). Thực hiện chương trình KHHGĐ hiện nay ở Việt Nam với 60 năm cho đến nay dù với nhiều thành tựu nhưng tại mỗi địa phương, vùng miền, nhóm dân cư vẫn còn nhiều thách thức khi kết quả chương trình còn khác nhau (13). Với việc bao phủ hệ thống phân phối các dịch vụ KHHGĐ, chương trình KHHGĐ cần chú trọng chuyển hướng sang nâng cao chất lượng dân số (13).
Cho đến nay, thực hiện các BPTT vẫn được coi là việc của nữ giới và tỷ lệ sử dụng BPTT truyền thống vẫn phổ biến. Ngoài ra, tỷ lệ nạo phá thai cao cũng là những thách thức của chương trình.