Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chăm sóc sức khoẻ sinh sản (SKSS) là lĩnh vực sớm được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu và hiện nay đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Khái niệm SKSS và chăm sóc SKSS lần đầu tiên được đưa ra trong Chương trình Hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển diễn ra tại Cai - ro, Ai - Cập năm 1994. Sau Hội nghị nay, chương trình Dân số - KHHGĐ của Việt Nam cũng chuyên hướng với sự chú ý nhiều hơn dành cho chăm sóc SKSS. Chương này sẽ cho thấy những luận điểm chủ yếu trong các nghiên cứu về chăm sóc SKSS nói chung, hẹp hơn là những nghiên cứu trong nhóm các dan tộc thiểu số và đặc biệt là những nghiên cứu đề cập đến sự tham gia của nam giới trong chăm sóc SKSS.
Điểm luận một số nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung Ké từ sau hội nghị Dân số và Phát triển Cairo 1994, van dé dân số trên thé giới không chỉ còn tập trung vào nội dung giảm sinh. Các chương trình dân số đã từng bước chuyền từ van đề quy mô dân số sang những thách thức lớn hơn, đó là chất lượng, dịch vụ và những vấn đề có liên quan như sức khoẻ sinh sản, bình đăng giới,. Cùng với xu hướng đó, ở Việt Nam đã có rất nhiều dự án, nghiên cứu được thực hiện, tập trung vào những nội dung cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản như: kế hoạch hoá gia đình, làm mẹ an toàn, phá thai an toản. Ở đây, chúng tôi điểm luận nhắn mạnh vào hai nội dung: kế hoạch hoá gia đình và làm mẹ an toàn.
Thứ nhất, về nội dung kế hoạch hoá gia đình, có thé kế đến những tác giả như Nguyễn Thị Vân Anh bàn về sở thích sinh đẻ ở một số vùng nông thôn Việt Nam. Tác giả cho thấy, ở nhiều vùng nông thôn, phụ nữ vẫn mong muốn có nhiều hơn 2 người con, đặc biệt nhu cầu phải có con trai vẫn rất mạnh mẽ. Sở thích sinh đẻ có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố về nhân khẩu (như tuổi, độ dài kết hôn, quy mô gia đình hiện có, số con trai.) hơn là những yếu tố xã hội (như học vấn, nghề nghiệp.) [Nguyễn Thị Vân Anh, 1993, tr. Sở thích sinh đẻ là một trong 16 những chỉ báo quan trong dé dự báo mức sinh trong tương lai.
Cũng nhằm mục dich dự báo mức sinh, phản ánh nguyện vọng sinh con của các gia đình, tác giả Mai Quỳnh Nam đã nghiên cứu dư luận xã hội về số con. Về mặt nhận thức vẫn có một bộ phận không nhỏ người dân mong muốn có 3, 4 người con, mong muốn có con trai được thể hiện rất rõ, mong muốn có con trai là tác nhân mạnh mẽ phá vỡ mục tiêu mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con, vì người dân sẽ không dừng lại cho đến khi nào sinh được con trai. Tác giả còn cho thấy kiến thức người dân về các BPTT còn hạn chế, hầu như chỉ biết đến biện pháp đơn giản nhất là vòng tránh thai [Mai Quynh Nam, 1994, tr. Ban về kiến thức, thái độ và việc thực hiện KHHGD ở Việt Nam, tác giả Pham Bich San đã cho thấy sự hiểu biết và việc sử dụng các biện pháp KHHGD phụ thuộc và những yếu tố như khu vực sinh sống, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con.
Sự hiểu biết của nhân dân mới chỉ xoay quanh vòng tránh thai và đây cũng là phương pháp chủ yếu được người dân sử dụng. Nghiên cứu này đã đánh giá mặt bằng kiến thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGD trong nhân dân Việt Nam tại một số tỉnh trong chu kì tài trợ của quỹ Dân số Liên hợp quốc. Nhìn chung, tâm thế người dân đã dần chấp nhận mô hình gia đình nhỏ, mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con, tuy nhiên vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ các cặp vợ chồng muốn có 3 con trở lên. Chuẩn mực đông con và có con trai trong gia đình van còn khá dai dang.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa quan tâm đến việc so sánh sự khác biệt về nhận thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGD giữa phụ nữ và nam giới, nhóm nam giới chưa được quan tâm, chú ý đến trong nghiên cứu này [Phạm Bích San, 1994, tr. Tác giả Phạm Bá Nhất lại phân tích kiến thức, thái độ và việc thực hiện KHHGD trong phạm vi nhóm đối tượng ở đô thị. Ở khu vực đô thị, ý tưởng về mô hình gia đình ít con, về kiến thức trong lĩnh vực dân số và KHHGĐ, về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đã có điều kiện du nhập vào trong thái độ của những dân thành phó. Trong đó phụ nữ là nhóm có mong muốn ít con hơn so với nam giới.
Tuy nhiên, số liệu chưa cho phép kết luận rằng các kết quả đó là sản phẩm tự nó, chắc chắn của một trình độ phát triển cao hơn của các khu vực đô thị. Bài viét quan tâm làm rõ nhu câu, mong muôn của người dân vê sô con 17 trong gia đình từ đó thấy được thái độ, ý tưởng của người dân đô thị về mô hình gia đình ít con. Bài viết cũng đã có sự xem xét vấn đề từ góc độ giới, tuy nhiên mới dừng lại ở sự đề cập chung chung, chưa đi sâu phân tích kiến thức, thái độ về mô hình gia đình it con và việc sử dụng biện pháp KHHGD của nam giới [Phạm Ba Nhất, 1994, tr. Cũng nhằm bàn về kiến thức, tâm thế đối với việc thực hiện KHHGĐ, nhưng tác giả Vũ Tuấn Huy chỉ tập trung vào nhóm đối tượng là cán bộ hoạt động trong hệ thống truyền thông đại chúng.
Đây là nhóm đối tượng có trình độ học vấn khá cao. Kết quả cho thấy nhận thức của nhóm đối tượng này về các biện pháp tránh thai cao hơn mặt bằng chung trong nhân dân, tâm thế hướng đến gia đình ít con cũng phô biến và mạnh hơn. Trong bai viết, tác giả cũng có điểm nhanh về sự khác biệt tâm thế giữa phụ nữ và nam giới, phụ nữ có xu hướng chấp nhận gia đình ít con mạnh hơn nam giới [Vũ Tuấn Huy, 1994, tr. Tác giả Pham Bich San cũng đã khang định ý tưởng về một gia đình ít con đã xâm nhập được vao trong xã hội Việt Nam.
Sự hiện diện của ý tưởng nảy là phô quát tại các khu vực đô thị, nông thôn đồng bằng sông Hồng cũng như một số các khu vực khác trong cả nước. Nguyện vọng về con trai tuy đã có những chuyền đổi đáng kế nhưng hãy còn rất lớn. Nhu cầu về con trai tồn tại như một sự cần thiết rất thân thiết của các gia đình Việt Nam, đặc biệt là nông dân. Tác giả cũng đã dự báo ý tưởng về mô hình gia đình ít con sẽ nhanh chóng lan truyền rộng khắp trong xã hội Việt Nam, còn nhu cầu phải có con trai thì sẽ thay đôi chậm chap trong những năm sắp tới [Pham Bich San, 1995, tr.
Tac giả Trương Xuân Trường thì xem xét nhận thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGD trong nhóm công nhân ở vùng mỏ Quảng Ninh. Nhìn chung, vấn đề nhận thức và việc sử dụng các biện pháp KHHGD tai vùng mỏ còn tồn tại nhiều mâu thuẫn và các khoảng trống. Kết qua khảo sát về tất cả các vấn đề cũng cho phép kết luận rằng chưa phải cứ có một đời sống kinh tế khá ổn định, một mặt bằng trình độ học vấn và tiêu dùng văn hoá tương đối khá là có thể có ngay sự thay đổi toàn điện về các hành vi dân số theo chiều hướng mong muốn [Trương Xuân Trường, 1996, tr. Một nghiên cứu tìm hiểu nhận thức về số con của phụ nữ nông thôn cũng cho thấy phụ nữ nông thôn có nhận thức khá tôt vê sô con theo quy định của Nhà nước, cũng như mong muôn 18 về số con được thê hiện khá tích cực.
Tác giả cũng khăng định vai trò quyết định của yếu tố thiên vị giới tính nam đối với nguyện vọng về số con, như đã được xác nhận đối với một số nước có truyền thống Không giáo. Mong muốn có ít nhất một con trai trong số phụ nữ nông thôn chắc chăn là một lực ép nặng nề đối với mọi mục tiêu của chương trình dân số và KHHGĐ trong tương lai [Nguyễn Minh Thắng, Charles Hirschman, Nguyễn Hữu Minh, 1996, tr. Nhu cầu sinh nhiều con, và nhất thiết phải có con trai còn thấy rõ ở vùng biên, đảo và ven biển Việt Nam. Vấn đề chăm sóc SKSS ở Việt Nam trong hơn một thập kỉ qua đã được quan tâm và có sự chuyển biến đáng kể.
Tuy nhiên, việc thực hiện chiến lược dân sỐ trong những năm gan đây ở nhiều vùng miền trên đất nước, như là ở vùng biên, dao và ven biên còn chưa đạt yêu cầu mà chiến lược đã đề ra như: người dân vẫn sinh nhiều con, tỷ lệ hộ sinh con thứ 3 chưa giảm, việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho bà me và trẻ sơ sinh chưa đảm bảo [Nguyễn Đình Tấn và các cộng sự, 2010, tr. Ở những vùng biển, đảo và ven biển nước ta các cặp vợ chồng vẫn có nhu cầu phải sinh được con trai, càng nhiều càng tốt, chất lượng dân số thấp, số trẻ em sinh ra bị khuyết tật và thiểu năng trí tuệ có ty lệ cao [Nguyễn Dinh Tan và các cộng sự, 2010, tr. Thái độ và hành vi sinh sản cũng như chăm sóc SKSS của người dân ở vùng biển, đảo và ven biển chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: kinh tế, xã hội, môi trường sống, trình độ học van. Tuy nhiên, trong những yếu té tác động nói trên thì yếu tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp có sự tác động mạnh mẽ hơn hắn các yếu tố khác.
Chính yếu tố này đã có những tác động thiếu tích cực đến thái độ và hành vi sinh sản cũng như chăm sóc SKSS của người dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo chất lượng dân số, quy mô dân số. Bản thân nhóm dân cư trong độ tuổi sinh đẻ ở vùng biển, đảo và ven biển có nhận thức tương đối tốt về nội dung “Làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em”. Điều đó thé hiện qua việc nhận biết của họ về những nội dung liên quan trực tiếp tới chăm sóc bà mẹ và trẻ em trước, trong và sau khi sinh với ty lệ khá cao.