Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hà Nội. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CẤP PHÉP CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG LÀ NGƢỜI NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam 1. Khái niệm quản lý nhà nước Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có tính thống nhất tƣơng đối. Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng quản lý”. Nhƣ vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý nhà nƣớc là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, 3 chức năng cơ bản của Quản lý nhà nƣớc, đó là: Chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nƣớc đảm nhiệm; chức năng tƣ pháp do cơ quan tƣ pháp thực hiện. Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nƣớc là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nƣớc (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó, quản lý hành chính nhà nƣớc là hoạt động quản lý đƣợc giới hạn trong các cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp; hệ thống 10 các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tƣ pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nƣớc.
Nếu tiếp cận khái niệm Quản lý nhà nƣớc dƣới góc độ này, Quản lý nhà nƣớc bao gồm có 2 chức năng cơ bản: Lập quy đƣợc thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hƣớng dẫn thực hiện pháp luật; Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đƣa luật pháp vào đời sống xã hội. Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động cấp phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Tại Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định nhƣ sau: Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam. Cũng theo luật này tại khoản 5 Điều 3 thì: Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam. Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 11/2016/NĐ-CP không có khái niệm về “ngƣời lao động nƣớc ngoài” trong quan hệ hợp đồng lao động, mà khái niệm người lao động nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam với mọi hình thức trong đó có hợp đồng lao động. Giấy phép lao động là văn bản cho phép người nước ngoài làm việc hợp pháp tại Việt Nam.
Thông tin trên giấy phép lao động có ghi đầy đủ thông tin người lao động; tên và địa chỉ tổ chức làm việc, vị trí làm việc. 11 Ngƣời nƣớc ngoài buộc phải làm công việc chính xác nhƣ đã đƣợc ghi trong giấy phép, nếu không sẽ bị coi là phạm pháp. Đối với quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay có nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau: Hƣớng tiếp cận thức nhất xem quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam là một bộ phận của quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam. Hiện nay, hiểu một cách khái quát, quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan nhà nƣớc hoặc tổ chức xã hội đƣợc Nhà nƣớc ủy quyền, đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong đời sống hàng ngày các chức năng của Nhà nƣớc trong quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cƣ trú, đi lại, hoạt động, làm việc… của ngƣời nƣớc ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo đó, quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nƣớc đối với các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, cƣ trú, đi lại, hoạt động, làm việc. của ngƣời nƣớc ngoài nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là hoạt động quản lý bằng pháp luật của Nhà nƣớc, mà chủ yếu là bằng các Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tƣ, Hƣớng dẫn… về nhập cảnh, xuất cảnh, cƣ trú, đi lại, hoạt động, làm việc(trong đó có lao động). của ngƣời nƣớc ngoài để thực hiện quyền lực nhà nƣớc trong điều chỉnh các hoạt động của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam.
Hƣớng thứ hai tiếp cận dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc về lao động. Ở phƣơng diện này, Nhà nƣớc có vai trò là ngƣời tạo khung pháp lý và môi trƣờng bình đẳng cho các chủ thể tham gia thị trƣờng lao động hợp tác và phát huy tốt năng lực của mình. Đồng thời, Nhà nƣớc còn trực tiếp đóng vai trò tổ chức để thị trƣờng lao động phát triển. Quản lý nhà nƣớc đối với lao động nƣớc ngoài nằm trong hệ thống các biện pháp quản lý nhà nƣớc về lao động 12 nói chung này.
Bản chất là tập trung vào quản lý việc tuyển dụng và quản lý lao động nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam; trình tự, thủ tục cấp giấy phép lao động và việc sử dụng giấy phép lao động, trách nhiệm của lao động nƣớc ngoài, ngƣời sử dụng lao động và các cơ quan nhà nƣớc trong việc tuyển dụng và quản lý lao động nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam… Thực tiễn cho thấy, quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam tập trung tiến hành quản lý các hành vi của ngƣời lao động nƣớc ngoài. Đây đƣợc xác định là đối tƣợng quản lý. Trong đó, cụ thể hơn chính là những hành vi liên quan đến lao động, làm việc của ngƣời lao động nƣớc ngoài. Vì vậy, ngành Lao động, Thƣơng binh và Xã hội là chủ thể chủ trì giúp Chính phủ thống nhất quản lý.
Bên cạnh đó, các hành vi khác có liên quan của ngƣời lao động nƣớc ngoài nhƣ: xuất cảnh, nhập cảnh, cƣ trú,… cũng là đối tƣợng quản lý, cho nên các ngành Công an, Ngoại giao, Y tế, Giáo dục – đào tạo, Thuế… cũng là những chủ thể quan trọng cùng phối hợp quản lý. Do vậy, quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam mới có thể đảm bảo chặt chẽ, khoa học, tránh trùng dẫm hay buông lỏng, đùn đẩy trách nhiệm. Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu quản lý nhà nước về hoạt động cấp phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong đời sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trong quản lý cấp giấy phép lao động, liên quan nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, làm việc… của người lao động nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, đảm bảo khai thác, sử dụng hiệu quả, ngăn chặn những vấn đề phức tạp phát sinh từ nguồn lao động này, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của lao động nước ngoài tại Việt Nam. Đặc điểm, sự cần thiết quản lý nhà nƣớc về lao động nƣớc ngoài, cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam 1.
Về văn hóa, phong tục, tập quán Phải nói rằng, trong những năm vừa qua, ở Việt Nam, mở cửa thị trƣờng lao động đã và đang tạo điều kiện cho việc di chuyển lao động Việt Nam ra nƣớc ngoài làm việc, đồng thời cũng tạo điều kiện cho lao động nƣớc ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày một gia tăng. Quản lý nhà nƣớc về hoạt động cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam, trong đó, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời lao động (NLĐ) trong thời gian họ làm việc ở nƣớc Việt Nam đƣợc đặt lên hàng đầu. Hầu hết lao động nƣớc ngoài làm việc ở Việt Nam đều có việc làm ổn định, thu nhập tốt, điều kiện sinh hoạt và làm việc đƣợc bảo đảm theo đúng quy định của luật pháp của Việt Nam.