Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động cấp phát thuốc Bảo hiểm Y tế (BHYT) ngoại trú là mắt xích then chốt trong chu trình sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh. Tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tân Châu – tỉnh An Giang, một bệnh viện hạng II phục vụ khu vực biên giới Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô đón tiếp hơn 900 lượt người bệnh ngoại trú mỗi ngày, áp lực cung ứng và quản lý chất lượng dịch vụ dược là rất lớn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế công tác cấp phát thường chỉ được nhìn nhận như một thủ tục phân phối hành chính đơn thuần, tiềm ẩn nhiều nguy cơ sai sót chuyên môn, thiếu kiểm duyệt tương tác và chưa có khảo sát thực chứng toàn diện tại đơn vị.

Nghiên cứu được triển khai với hai mục tiêu cụ thể: Phân tích mức độ tuân thủ 6 bước của quy trình cấp phát thuốc BHYT ngoại trú và đánh giá 4 chỉ số cấp phát thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên 400 đơn thuốc và 400 bệnh nhân với tổng cộng 1.233 lượt thuốc trong giai đoạn từ ngày 01/03/2021 đến ngày 30/08/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tân Châu.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ số chất lượng: Tỷ lệ cấp phát thuốc thực tế đạt 100%, tỷ lệ dán nhãn hướng dẫn liều dùng chỉ đạt 0%, và tỷ lệ người bệnh không hài lòng lên tới 47,5%. Những số liệu này cung cấp cơ sở khoa học để ban lãnh đạo bệnh viện tái cấu trúc quy trình Dược lâm sàng, tối ưu hóa thời gian chờ đợi và nâng cao độ an toàn trong điều trị ngoại trú.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết Chu trình sử dụng thuốc của WHO, bao gồm 4 mắt xích liên hoàn: Chẩn đoán, Kê đơn, Cấp phát và Tuân thủ điều trị. Trong chu trình này, cấp phát đóng vai trò là khâu trung gian chuyển giao y lệnh điều trị thành hành động dùng thuốc thực tế của người bệnh. Nếu xảy ra sai sót ở khâu cấp phát, mọi nỗ lực chẩn đoán và kê đơn trước đó đều bị suy giảm hiệu quả.

Đề tài áp dụng mô hình Quy trình cấp phát chuẩn 6 bước của WHO:

  1. Tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn thuốc.
  2. Kiểm tra chi tiết đơn thuốc về thông tin, số lượng, liều dùng và tương tác.
  3. Chuẩn bị thuốc, bao bì và dán nhãn theo quy định.
  4. Kiểm tra đối chiếu lần cuối.
  5. Lưu trữ thông tin và chứng từ.
  6. Thực hiện giao phát, tư vấn và hướng dẫn sử dụng cho người bệnh.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Nguyên tắc "3 kiểm tra, 5 đối chiếu" (kiểm tra tên bệnh nhân, tên thuốc, liều lượng; đối chiếu đơn thuốc, nhãn thuốc, đường dùng, chất lượng, thời gian dùng), nguyên tắc xuất nhập kho FEFO/FIFO, và Bộ chỉ số chăm sóc người bệnh của WHO. Cơ sở pháp lý tham chiếu xuyên suốt gồm Thông tư số 22/2011/TT-BYT quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện cùng Thông tư số 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp quan sát trực tiếp có bảng kiểm và phỏng vấn cấu trúc người bệnh.

Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ quần thể với hệ số tin cậy 95% (Z = 1,96), sai số tuyệt đối d = 0,05 và tỷ lệ ước tính p = 0,5. Cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 384, tác giả đã mở rộng thu thập trên 400 bệnh nhân và 400 đơn thuốc ngoại trú, tương ứng với 1.233 lượt cấp phát thuốc. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện có hệ thống: Mỗi ngày làm việc tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 5 bệnh nhân vào 2 khung giờ cao điểm (9h00 - 11h00 và 14h00 - 15h00) liên tục trong 6 tháng từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2021.

Nguồn dữ liệu bao gồm: Quan sát trực tiếp thao tác của dược sĩ tại quầy cấp phát BHYT, trích xuất dữ liệu hành chính từ hệ thống phần mềm mạng y tế VNPT-HIS (YTEANGIANG), và phỏng vấn trực tiếp người bệnh ngay sau khi nhận thuốc. Phương pháp phân tích thống kê mô tả được lựa chọn nhằm đo lường chính xác tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm và các chỉ số thời gian trung bình, từ đó so sánh khách quan với các chuẩn mực thực hành của WHO và các nghiên cứu cùng chuyên ngành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận 4 phát hiện quan trọng về thực trạng cấp phát thuốc BHYT ngoại trú tại bệnh viện:

Thứ nhất, việc thực hiện quy trình 6 bước có sự phân hóa rõ rệt giữa thủ tục hành chính và kiểm soát chuyên môn. Khâu tiếp nhận đơn thuốc đạt tỷ lệ tuân thủ 90%, kiểm tra tên người bệnh đạt 100%, kiểm tra tính hợp lệ đạt 96,25%, và lưu trữ đơn đạt 100%. Tuy nhiên, ở bước kiểm tra chi tiết, 100% đơn thuốc chỉ được kiểm tra tên và số lượng, trong khi tỷ lệ kiểm tra tính hợp lý của liều dùng và tương tác thuốc đều là 0%. Dược sĩ phát hiện 3,75% đơn thuốc có sai sót (15 đơn) và đã liên hệ bác sĩ để điều chỉnh.

Thứ hai, công tác chuẩn bị thuốc và ghi nhãn còn nhiều bất cập. Mặc dù 100% thuốc được đối chiếu nhãn và lấy theo nguyên tắc FEFO/FIFO, có tới 18,25% đơn thuốc thực hiện ra lẻ không dùng dụng cụ thích hợp (nhân viên dùng tay trần điều chỉnh số lượng viên nén đóng lọ như Coversyl, Coveram, Bài thạch). Tỷ lệ thuốc được dán nhãn đầy đủ theo chuẩn WHO đạt 0%. Chỉ có 81,75% lượt thuốc có thông tin tên và nồng độ do tận dụng bao bì gốc của nhà sản xuất, 18,25% thuốc không có nhãn, và 0% thuốc được dán thông tin về liều dùng hay lưu ý khi sử dụng.

Thứ ba, các chỉ số cấp phát cho thấy năng lực cung ứng tốt nhưng thời gian chờ và hoạt động tư vấn chưa đạt yêu cầu. Tỷ lệ thuốc cấp phát thực tế so với đơn đạt 100% (1.233/1.233 lượt). Tỷ lệ phát đúng thuốc đạt 100%, đúng số lượng đạt 99,75%, đạt hạn dùng 98,94%, và đạt chất lượng cảm quan 99,67%. Thời gian cấp phát trung bình là 195 giây (3 phút 15 giây), trong khi thời gian chờ đợi trung bình của người bệnh lên đến 570 giây (9 phút 30 giây, cá biệt giờ cao điểm lên tới 15 phút). Tỷ lệ thực hiện tư vấn thuốc chỉ đạt 9,75% (28/400 đơn) khi người bệnh chủ động hỏi, còn 90,25% hoàn toàn không được tư vấn.

Thứ tư, nhận thức của người bệnh về thuốc ở mức rất thấp và tỷ lệ không hài lòng chiếm đa số. Xét theo đơn thuốc, chỉ 1,25% bệnh nhân biết được tác dụng chính của tất cả thuốc được cấp, 63% biết tên thuốc và 62,75% biết liều dùng. Đáng chú ý, có tới 91,25% người bệnh không nắm được tác dụng chính của các thuốc điều trị quan trọng. Đánh giá mức độ hài lòng ghi nhận 47,5% không hài lòng, 5% rất không hài lòng, 46,25% đánh giá bình thường, và chỉ có 1,25% người bệnh hài lòng với dịch vụ cấp phát.

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn mối quan hệ giữa thông tin ghi nhãn và mức độ hiểu biết qua biểu đồ so sánh, dữ liệu phản ánh rõ nét sự phụ thuộc của người bệnh vào bao bì thuốc. Đối với 1.008 lượt thuốc có nhãn tên và hàm lượng, có 85,12% người bệnh nắm được tên và liều dùng. Ngược lại, trong 225 lượt thuốc không có nhãn, tỷ lệ người bệnh không biết tên hoặc liều dùng lên tới 97,77%. Tương tự, ở 1.100 lượt thuốc có đơn ghi rõ thời điểm uống, 83,64% bệnh nhân nắm được thông tin, trong khi ở 133 lượt thuốc thiếu thông tin này, tỷ lệ không biết thời điểm dùng lên tới 96,24%.

Nguyên nhân của các hạn chế trên xuất phát từ sự quá tải cục bộ trong khung giờ cao điểm và sự thiếu hụt nhân lực Dược sĩ đại học trực tiếp tại quầy phát thuốc ngoại trú (hiện chủ yếu do Dược sĩ cao đẳng và trung cấp đảm nhiệm). Việc kiểm tra lần cuối chỉ do một người thực hiện (tỷ lệ kiểm tra chéo 2 người đạt 0%), không đúng khuyến cáo của WHO.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, thời gian cấp phát 195 giây tại Tân Châu dài hơn Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (54 giây) và Bệnh viện Nội tiết Trung ương (117 giây), nguyên nhân một phần do tốc độ xử lý của hệ thống phần mềm mạng y tế VNPT-HIS còn độ trễ. Tuy nhiên, thời gian cấp phát này chưa phản ánh chất lượng chuyên môn thực chất vì chưa bao gồm thời gian tư vấn lâm sàng cho người bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm chuẩn hóa hoạt động cấp phát thuốc ngoại trú:

Thứ nhất, tái cơ cấu nhân sự và nâng cao năng lực kiểm soát đơn thuốc. Ban Giám đốc và Trưởng khoa Dược cần bố trí tối thiểu 01 Dược sĩ đại học chuyên trách dược lâm sàng tại quầy phát thuốc BHYT ngoại trú trước quý II/2023. Dược sĩ đại học sẽ chịu trách nhiệm thẩm định 100% đơn thuốc về liều dùng, đường dùng, tương tác thuốc và các chống chỉ định trước khi chuyển sang khâu soạn thuốc, nâng tỷ lệ phát hiện và can thiệp sai sót đơn thuốc từ 3,75% lên trên 8%.

Thứ hai, chuẩn hóa thao tác chuẩn bị thuốc và thiết lập cơ chế kiểm tra chéo. Tổ Dược chính ban hành quy chuẩn thao tác chuẩn (SOP) bắt buộc sử dụng đĩa đếm, thìa gạt chuyên dụng khi ra lẻ thuốc viên, nghiêm cấm 100% hành vi dùng tay trần tiếp xúc trực tiếp với thuốc. Đồng thời, tận dụng nhân lực hiện có để phân định rõ ràng 2 vị trí độc lập: Dược sĩ soạn thuốc và Dược sĩ kiểm tra - giao phát thuốc nhằm đạt tỷ lệ kiểm tra chéo 100%, hạn chế tối đa sai lệch số lượng (mục tiêu đạt 100% đúng số lượng vào quý III/2023).

Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin tự động hóa in tem nhãn phụ. Phòng Công nghệ thông tin phối hợp cùng Khoa Dược hoàn thiện tính năng in nhãn phụ tự động từ phần mềm VNPT-HIS trong vòng 6 tháng. Tem nhãn in nhiệt cần hiển thị đầy đủ tên thuốc, hàm lượng, số lần uống, thời điểm dùng cụ thể (trước/sau ăn) và các lưu ý đặc biệt, mục tiêu nâng tỷ lệ thuốc dán nhãn đầy đủ thông tin từ 0% lên trên 95%.

Thứ tư, tối ưu hóa mặt bằng, nâng cấp đường truyền và thành lập bàn tư vấn dược. Bệnh viện cần đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng truyền tải dữ liệu nội bộ để giảm thời gian xử lý xuất kho điện tử, bố trí khay tiếp nhận đơn có đánh số thứ tự rõ ràng. Thiết lập một quầy tư vấn sử dụng thuốc riêng biệt cho các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính phức tạp, phấn đấu giảm thời gian chờ đợi trung bình từ 9,5 phút xuống dưới 6 phút và nâng tỷ lệ hài lòng của người bệnh từ 1,25% lên trên 80% vào cuối năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Ban Giám đốc và Trưởng khoa Dược các bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện khu vực: Sử dụng số liệu và mô hình phân tích trong luận văn làm tài liệu đối sánh để rà soát, đánh giá thực trạng và tái cấu trúc quy trình cấp phát thuốc BHYT ngoại trú tại đơn vị mình.
  2. Dược sĩ lâm sàng và Dược sĩ phụ trách kho cấp phát: Tham khảo danh mục bảng kiểm thao tác chuẩn, tiêu chuẩn kiểm tra đơn thuốc theo khuyến cáo của WHO và phương pháp quản lý việc ra lẻ thuốc an toàn.
  3. Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược và Y tế công cộng: Ứng dụng phương pháp luận nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thức thiết kế bộ công cụ khảo sát chỉ số WHO và kỹ thuật xử lý dữ liệu định lượng trong nghiên cứu thực chứng tại bệnh viện.
  4. Cơ quan quản lý Y tế và cơ quan Bảo hiểm Xã hội: Tham khảo các phát hiện về mối tương quan giữa thông tin trên nhãn thuốc và hiểu biết của người bệnh để xây dựng các quy định bắt buộc về in nhãn phụ và định mức thời gian tư vấn dược ngoại trú.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ cấp phát thực tế đạt 100% nhưng vì sao mức độ không hài lòng của người bệnh lại chiếm tới 52,5%? Tỷ lệ cấp phát 100% chỉ chứng minh khả năng cung ứng đầy đủ số lượng thuốc trong danh mục BHYT. Sự không hài lòng của người bệnh xuất phát từ thời gian chờ đợi kéo dài (trung bình 9,5 phút, cao điểm 15 phút), quy trình xếp hàng chưa thuận tiện và việc thiếu hoàn toàn khâu giải thích, tư vấn cách sử dụng thuốc từ phía dược sĩ.

Việc không dán nhãn thông tin liều dùng ảnh hưởng như thế nào đến người bệnh? Dữ liệu nghiên cứu cho thấy khi không có nhãn thuốc, có đến 97,77% người bệnh không nắm được tên và liều dùng chính xác. Điều này dẫn đến nguy cơ uống nhầm thuốc, sai liều lượng, sai thời điểm, làm giảm hiệu quả điều trị của bác sĩ và gia tăng tỷ lệ gặp các biến cố có hại do thuốc gây ra.

Vì sao bước kiểm tra tính hợp lý của liều dùng và tương tác thuốc tại bệnh viện đạt tỷ lệ 0%? Do bộ phận cấp phát thuốc ngoại trú tại thời điểm nghiên cứu chủ yếu được bố trí nhân lực có trình độ trung cấp và cao đẳng dược, chưa được đào tạo chuyên sâu về dược lâm sàng. Đồng thời, phần mềm quản lý chưa tích hợp module cảnh báo tương tác thuốc tự động nên việc kiểm tra chuyên môn chưa thể thực hiện.

Biện pháp nào giúp khắc phục dứt điểm tình trạng dùng tay trần khi ra lẻ thuốc viên? Khoa Dược cần trang bị đầy đủ bộ dụng cụ đếm thuốc hợp vệ sinh (khay đếm, thìa gạt inox), tổ chức đóng gói sẵn theo các cơ số liều chuẩn vào khung giờ vắng bệnh nhân và ban hành chế tài kiểm tra giám sát nội bộ định kỳ, gắn việc tuân thủ quy trình vô khuẩn vào chỉ tiêu thi đua hàng tháng.

Thời gian cấp phát trung bình 195 giây có phải là chỉ số tối ưu chưa? Thời gian 195 giây là tương đối dài so với một số bệnh viện tuyến trung ương do đường truyền phần mềm VNPT-HIS đôi lúc bị chậm. Tuy nhiên, khoảng thời gian này hiện chỉ phục vụ việc soạn và giao thuốc cơ bản. Một quy trình cấp phát chuẩn cần rút ngắn thời gian thao tác máy tính để dành thời gian tư vấn sử dụng thuốc cho người bệnh.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành việc khảo sát toàn diện và chỉ ra bức tranh thực tế về hoạt động cấp phát thuốc BHYT ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tân Châu:

  • Tỷ lệ cung ứng thuốc đạt mức tuyệt đối 100% với 1.233 lượt thuốc được cấp phát đúng chủng loại, đảm bảo hạn dùng và chất lượng.
  • Quy trình 6 bước của WHO mới chỉ được thực hiện ở mức độ hành chính cơ bản, tỷ lệ kiểm tra tương tác thuốc và dán nhãn đầy đủ liều dùng đều đạt 0%.
  • Tỷ lệ tư vấn sử dụng thuốc cho người bệnh còn rất hạn chế (9,75%), dẫn đến 91,25% người bệnh không hiểu rõ tác dụng chính của thuốc điều trị.
  • Thời gian chờ đợi trung bình 570 giây là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ không hài lòng của người bệnh lên tới 52,5%.
  • Nghiên cứu đã chứng minh vai trò quyết định của nhãn thuốc và thông tin trên đơn đối với mức độ hiểu biết của người bệnh (tỷ lệ hiểu đúng tăng từ 2,23% lên 85,12% khi có nhãn).

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh số liệu thực chứng đầy đủ, làm cơ sở khoa học để các bệnh viện tuyến khu vực đổi mới quy trình Dược lâm sàng ngoại trú. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi bệnh viện khẩn trương hoàn thiện hệ thống in nhãn tự động, chuẩn hóa quy trình kiểm tra chéo và bố trí Dược sĩ đại học trực tiếp tư vấn, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng điều trị và an toàn dùng thuốc cho cộng đồng.