CHƯƠNG 1. NHỮNG CƠ SỞ DAN DEN SỰ CẠNH TRANH CHIEN LƯỢC GIỮA NGA VA NATO Ở KHU VUC BIEN DEN 1.1, Cac khái niệm Ì. Khái nệm “địa-chính tri” Khái niệm “dia-chinh tri” lần đầu được nhắc đến vào năm 1990, khi đó học giả người Thụy Điện Rudolf Kjellén đã lý giải đây là “ly thuyết về các quốc gia với tư cách là một cơ thể địa lý hoặc một hiện tượng trong không gian, tức là với tư cách đất đai, lãnh thé, khu vực hoặc đặc biệt nhất là một đất nước”, hay “nghiên cứu các chiến lược của các cơ thé chính trị trong không gian”. Qua đó, ta nhận thấy rằng, *địa-chính trị” dưới góc nhìn của học giả Rudolf Kjellén có nghĩa là các diễn biến chính trị của các quôc gia sẽ được định hình chủ yêu bởi yêu tô không gian và vị trí địa lý.
Tướng Đức Karl Haushofer (1869 - 1946) thì bô sung các tiền trình chính trị cho định nghĩa vẻ địa chính trị: “Dia chính trị là một ngành khoa học quốc gia mới nghiên cứu về nhà nước. một học thuyết về quyết định luận không gian của các tiến trình chính tri, dựa trên cơ sở rộng rãi của địa lý học, đặc biệt là địa lý học chính trị”. Như vậy thì theo Haushofer, địa chính trị được hình thành trên cơ sở của địa lý học nói chung và của địa lý học chính trị nói riêng. Và như thé tức là Haushofer coi địa chính trị là một bộ phận của địa lý học chính trị chứ không phải ngược lại như có người (như Efferink) đã hiéu.! Theo thời gian, định nghĩa “dja-chinh trị” được nghiên cứu qua một số lập luận sau: Từ điên bách khoa Le Petit Larousse illustré của Pháp (năm 2000) đã định nghĩa “Địa chính trị [là] nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dữ liệu địa lý với nên chính trị của các quốc gia” (tr.
Như vậy cuốn từ điên này coi địa chính trị là một lĩnh vực ` Nguyễn Văn Dân (2014), Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia § khoa học năm giữa địa lý với chính trị, hay cũng có thé nói nó bao hàm cả địa lý lan chính tri. Từ điên bách khoa Britannica (2004 CD-ROM) định nghĩa địa chính trị là “su phân tích những ảnh hướng của địa lý đến các mỗi quan hệ quyền lực trong chính trị quốc tế. Trong việc hoạch định chính sách quốc gia, các nhà lý thuyết địa chính trị đã tìm cách chứng minh tam quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập được đường biên giới quốc gia, quyền tiếp cận các đường bién quan trọng và quyền kiểm soát những khu vực dat liên có tam quant rong chiên lược”.
Có nhiều cách hiéu khác nhau về địa-chính trị, song nhìn chung khi nói đến địa- chính trị là nói đến vai trò của địa lý đối với chính trị của một quốc gia, đặc biệt là đối với chính sách đôi ngoại, như Napoleon Bonaparte tông kết: “Chinh trị của một quốc gia nằm ở trong địa lý của nó”. Về bản chất, địa chính trị là môn khoa học nghiên cứu liên ngành, tập trung vào các sự kiện chính trị, diễn biến chính trị trên các khu vực địa lý xác định, từ không gian hẹp của một vùng, địa phương, một quốc gia, khu vực với nhóm quốc gia đền châu lục và toàn cau. Khái niệm “Biển Den” Trong quá khứ, Biên Den được Người Hy Lạp cô đại lần đầu tiên gọi là “Pontus Axeinus” có nghĩa là “bién khắc nghiệt". So với Địa Trung Hải, họ thấy nó lạnh lẽo và nhiều bão tố, thậm chí còn nguy hiểm vì các bộ lạc hoang đã sinh sống ven bờ biển.
Phải mat vài thé kỷ người Hy Lạp cô đại mới biết đến Biên Den và cư dan con người ở đó, trước khi họ đôi ý và bat đầu gọi nó là Pontus Euxinus (“Bién hiểu khách”), thường gọi nó một cách thân thiện, đơn giản là chiếc Pontus. Có một số giả thuyết về nguồn gốc của tên “Biên Đen” hiện tai, các nhà sử học cho rang đó là tên cô do người Ba Tư đặt. Các nhà thủy văn giải thích điều đỏ là do Biên Den có khả năng nhuộm đen các vat thê _* Nguyễn Văn Dân (2014), Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia - ; - ; 3 Nguyễn Thi Qué, Ngô Thi Thúy Hiển (2023), Dia — chính trị thể giới.
Hà Nội: NXB Chính trị Quée gia Sự thật 9 kim loại do hàm lượng hydro sunfua hòa tan cao. Các nhà sinh học có xu hướng giải thích nó bằng thực tế là không có oxy và hầu như không có sự sông ở độ sâu của nó.* Khái niệm vẻ “khu vực Biên Den” cơ bản được hình thành bởi Bién Den — vùng biển đưới dạng vùng tring hình clip có hướng đông-tây, và các quốc gia ven biên là Bulgaria, Romania, Ukraine, Nga, Georgia và Thô Nhĩ Kỳ. Sang đến thế kỷ XXI, khái niệm “The wider Black Sea region” bắt đầu xuất hiện, có liên quan đến 12 quốc gia thuộc Dự án Hợp tác Kinh tế Biển Den (BSEC) gồm: Albania, Armenia, Azerbaijan, Bulgaria, Georgia, Hy Lạp. Moldova, Romania, Liên bang Nga, Serbia, Thô Nhĩ Kỳ va Ukraine.
“The wider Black Sea region” được nha sử hoc Mihail E. Ionescu thẻ hiện là: “Khu vực Biển Den rộng hơn là một khái niệm địa chính trị và nó bao gồm các quốc gia ven sông cũng như những quốc gia được kết nỗi trong cùng một tô hợp an ninh”. Khái niém “cạnh tranh chiến lược ” trong quan hệ quốc tế “Cạnh tranh chiến lược” bắt đầu xuất hiện trong diễn ngôn chính trị vào cudi những năm 1960. Trước đó, việc sử dụng thuật ngữ này là không đáng kê.
Mặc dù Chiến tranh Lạnh là một thời kỳ được đặc trưng bởi sự cạnh tranh gay gắt giữa Mỹ và Liên Xô trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khoa học và công nghệ, vũ khi, kinh tế và tài chính, đến hệ tư tưởng và liên minh. Tuy nhiên, trước thời kỳ hòa hoãn những năm 1970, các học giả, chính trị gia lẫn nhà báo đều không gọi đó là cạnh tranh chiến lược. Kê từ khi Chiến lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ xuất ban năm 2017 , thuật ngữ “cạnh tranh chiến lược” đã trở nên phô biến trong các diễn ngôn chính trị, học thuật và truyền thông. Khái niệm “cạnh tranh chiến lược” được xem xét qua việc phân tích hai thành phân ngôn ngữ bên trong cụm gôm “canh tranh” và “chiên lược”.
‘ Black Sea Study Pack: A Resource for Teacher. Truy xuất từ: https://archive,1wlcarn,neVbsepr.org/TexưESP/Gcography.htm 5 Daniel Petrescu (2019), Wider Black Sea region (WBSR) as unit of analysis. Romania: NXB Carol I National Defence University 10 Trước hết khi xét nghĩa “cạnh tranh” theo tiếng Anh thì nó được gọi với hai thuật ngữ phô biến là “competition” và “rivalry”. Từ điển Macquarie của Đại học Macquarie, Australia định nghĩa “competition” là hành động cạnh tranh; ganh dua và “rivalry” là hành động.
quan điềm hay quan hệ của một bên ganh đua hay các bên ganh dua; Trong trường hợp nay, nghĩa của hai thuật ngữ “competition” và “rivalry” là tương đương nhau, có khả năng thay thé cho nhau. Trong kính tế học, “rivalry” không được sử dụng phd biến như “competion”. Các nghiên cứu về cạnh tranh chiến lược chủ yếu tập trung vào năng lực cạnh tranh và xây dựng chiến lược cạnh tranh giữa các công ty, doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh. Các công ty, doanh nghiệp cạnh tranh chiến lược không chỉ trong không gian quốc gia mà giữa các quốc gia.
Các nghiên cứu trong lĩnh vực nảy đều sử dụng thuật ngữ “competition” dé chi cạnh tranh. Ngược lại, trong các nghiên cứu về cạnh tranh giữa các nước trong quan hệ quốc tế thì cả hai thuật ngữ “competition” và “rivalry” đều được sử dụng. Giữa hai thuật ngữ “competition” và “rivalry”, xung đột (conflict) được nhắc đến như là yếu tố dé phân biệt cấp độ của hai thuật ngữ này. Tuy vậy, hầu hết các định nghĩa vẻ “competition” đều cho rằng, thuật ngữ này mang nghĩa hoàn toàn khác “conflict”.
Mazarr và các cộng sự từ quan điểm hẹp vẻ xung đột lại cho rằng, xung đột hoặc chiến tranh là một hình thức cạnh tranh đặc biệt khốc liệt. Các tác giả này nhắn mạnh thêm rằng, "trong bối cảnh quan hệ quốc tế”, cạnh tranh (competion) có thé duge hiểu là một trạng thái của môi quan hệ đối kháng thiểu xung đột vũ trang trực tiếp giữa các chủ thể” hay “cạnh tranh trong lĩnh vực quốc tế liên quan đến nỗ lực giành lợi thế, ‹ thường liên quan đến những nhân tố khác được cho là thách thức hoặc đe dọa, thông qua việc theo đuôi lợi ích bị tranh chấp như: quyền lực, an ninh, sự giàu có, ảnh hưởng và dia vi". Ở Việt Nam, thuật ngữ “canh tranh” được Từ điện tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2010 chỉ rõ, đó là việc “cd gắng giành phần hon, phan thắng vẻ minh giữa những người, những tổ chức nhăm những lợi ích như nhau”. Từ 11 điển Bách khoa Việt Nam lại định nghĩa thuật ngữ “cạnh tranh” từ góc độ kinh tế, đó là “hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nén kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cau, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” Như vậy, các thuật ngữ “competition” và “rivalry” được sử dụng phô biến dé phân tích cạnh tranh chiến lược giữa các nước trong nen chính trị thé giới.
Về nghĩa cơ bản, “Cạnh tranh” được hiểu cơ ban “là tình huống trong đó các đôi thủ tìm cách vượt qua nhau dé đạt được một mục đích khan hiềm nao đó”. Thứ hai, việc bô sung tính từ “chiến luge” sẽ làm thay đôi và thu hẹp sự cạnh tranh xuống một hình thức cạnh tranh cụ thẻ. Khái niệm “chién lược” (strategy) bắt nguồn từ khái niệm “strategos” trong tiếng Hy Lạp cô. có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội.
Đến thời Alexander Đại dé, khái niệm “chién luge” được dùng dé chỉ kỹ năng lãnh đạo nhằm khai thác các lực lượng, đánh bại đối phương và xây dựng nên một hệ thống thống trị. Vào cuỗi thé ky XIX, tại châu Âu, khái niệm “chiến lược” đã thâm nhập từ lĩnh vực quân sự sang lĩnh vực kinh doanh và đến thế kỷ XX thì các quan điểm này đã thâm nhập sang lĩnh vực quản lý nhà nước.