phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn “Cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar giai đoạn 2009-2016” đƣợc hình thành với nội dung gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Các nhân tố chi phối cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar giai đoạn 2009-2016. Chƣơng này cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình thế giới, khu vực và Myanmar giai đoạn 2009-2016; lợi ích chiến lƣợc của Mỹ và Trung Quốc tại Myanmar, cũng nhƣ chính sách của hai nƣớc này đối với Myanamar. Chƣơng 2: Thực trạng cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar giai đoạn 2009-2016. Đây là chƣơng chính của Luận văn.
Chƣơng này tập trung phân tích cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar giai đoạn 2009-2016 trên từng lĩnh vực cụ thể nhƣ chính trị - ngoại giao kinh tế, an ninh - quốc phòng và các lĩnh vực khác. Chƣơng 3: Tác động cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar giai đoạn 2009-2016, xu hƣớng thời gian tới và bài học cho Việt Nam. Chƣơng cuối này đƣa ra những nhận xét về tác động tích cực cũng nhƣ tiêu cực của cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar giai đoạn 2009-2016 tới Myanmar, phản ứng chính sách của Myanmar đối với Mỹ và Trung Quốc. Luận văn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng đƣa ra một số dự báo về xu hƣớng cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung tại Myanmar dƣới thời Tổng thống D.
Trump và một số bài học cho Việt Nam. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CÁC NHÂN TỐ CHI PHỐI CẠNH TRANH ẢNH HƢỞNG MỸ- TRUNG TẠI MYANMAR GIAI ĐOẠN 2009-2016 1. Tình hình thế giới, khu vực và Myanmar 1. Tình hình thế giới, khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Đông Nam Á Từ năm 2009 đến 2016, trên thế giới, trật tự đa cực ngày càng trở nên rõ nét với các “cực” là các nƣớc lớn nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản.
Sự cạnh tranh giữa các nƣớc lớn để xác lập vị thế, ảnh hƣởng của mình diễn ra mạnh mẽ ở khắp các khu vực trên thế giới. Những khu vực, quốc gia có nhiều tiềm năng kinh tế hay vị trí địa chiến lƣợc quan trọng đều đƣợc các nƣớc lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc hết sức quan tâm, cạnh tranh quyết liệt để tranh giành ảnh hƣởng. Từ ngày 20/01/2009, Barack Obama chính thức trở thành Tổng thống thứ 44 của Mỹ với nhiều cam kết “thay đổi” trong chính sách đối nội và đối ngoại, trong đó đáng chú ý là những chính sách để vực dậy nền kinh tế Mỹ và chấm dứt cuộc chiến tại Iraq. Trên thực tế, Mỹ đã rút 190.000 lính trên tổng số 200.000 quân vào thời điểm đỉnh cao xung đột khỏi Iraq và Afghanistan, giữ vững mối quan hệ an ninh đồng minh để không có cuộc khủng bố mới quy mô lớn nào xảy ra trên lãnh thổ nƣớc Mỹ, tiêu diệt đƣợc trùm khủng bố quốc tế Osamar bin Laden và một số thủ lĩnh của nhóm Al-Qaeda, đạt đƣợc thỏa thuận hạt nhân với Iran, thúc đẩy ký kết Hiệp định đối tác xuyên TBD (TPP), phát triển các mối quan hệ với Cuba và rộng hơn là việc làm ấm lại các quan hệ với Mỹ Latinh…1 Việc cả Mỹ và Trung Quốc đều tăng cƣờng can dự, xác lập ảnh hƣởng trên thế giới làm cho cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung ngày càng gay gắt hơn.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, nền kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi nhƣng chƣa vững chắc và thiếu ổn định, nhƣ tình trạng nợ công tăng, tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao, đặc biệt là tình trạng thâm hụt ngân sách ở mức 1 Quang Vững, Nhìn lại chính sách đối ngoại của Tổng thống Obama, http://baoquocte.vn/nhin-lai-chinh- sach-doi-ngoai-cua-tong-thong-obama-39261.html, truy cập ngày 22/6/2018 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com báo động đối với nhiều quốc gia. Theo tính toán của IMF, tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới năm 2008 chỉ đạt 3,7%, thấp hơn 1,3% so với mức tăng 5,0% năm 2007 và thấp hơn 1,4% so với mức tăng 5,1% của năm 2006. Đến năm 2009, kinh tế toàn cầu bắt đầu tăng trƣởng trở lại. Năm 2010, tăng trƣởng kinh tế thế giới đạt mức 4,8%, tuy nhiên, khủng hoảng nợ công châu Âu đã bắt đầu trở thành vấn đề của nền kinh tế thế giới.
Sau đó, kinh tế thế giới tiếp tục phải đối mặt với một loạt thách thức nhƣ khủng hoảng nợ công nghiêm trọng tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), sức phục hồi “èo uột” của kinh tế Mỹ, đà tăng trƣởng chậm lại của các nền kinh tế mới nổi, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát cao, tình hình bất ổn chính trị và thiên tai…2 Nền kinh tế Mỹ cũng chịu ảnh hƣởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sau khi hai quỹ tín dụng địa ốc lớn là Fannie Mae và Freddie Mac bị quốc hữu hóa và đặt dƣới quyền quản trị của Cục Nhà cửa liên bang Mỹ, lần lƣợt các ngân hàng lớn của Mỹ nhƣ Lehman Brothers, Washington Mutual cũng tuyên bố phá sản, trong khi Merill Lynch bị Ngân hàng Mỹ (Bank of America) mua lại, còn tập đoàn AIG lại phải nhận hàng chục tỷ USD cứu trợ từ chính phủ Mỹ. Tuy đã có những dấu hiệu phục hồi khả quan (quý III năm 2009, tăng trƣởng kinh tế Mỹ đạt 2,2% sau 4 quý tăng trƣởng âm)3, song Mỹ vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn nhƣ tỉ lệ tăng trƣởng kinh tế thấp, hệ lụy từ khủng hoảng nợ công châu Âu, tỉ lệ thất nghiệp cao, cộng với vị trí trên trƣờng quốc tế cũng bị suy giảm trong khi xu thế đa cực hóa ngày càng rõ nét với sự nổi lên của các nƣớc nhóm BRIC. Trong khi đó, ở châu Á, Trung Quốc đang tăng trƣởng rất nhanh về mọi mặt, đặc biệt kinh tế, với dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới và trở thành đối tác kinh tế thƣơng mại lớn nhất của Mỹ.
Tốc độ tăng trƣởng kinh tế của Trung Quốc duy trì ở mức 9,6% 2 Võ Hồ Bảo Hạnh, Nhìn lại tình hình kinh tế thế giới 5 năm qua và một số triển vọng năm 2014, Tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, trang 62-67 3 Võ Hồ Bảo Hạnh, Nhìn lại tình hình kinh tế thế giới 5 năm qua và một số triển vọng năm 2014, Tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, trang 63 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo tính toán của Ngân hàng Trung ƣơng Trung Quốc, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tính đến tháng 12/2009 đã đạt mức 2,4 nghìn tỷ USD, cao nhất thế giới.5 Hơn nữa, các vấn đề khu vực trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết nhƣ căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề hạt nhân Iran, tình trạng nội chiến kéo dài tại các nƣớc Trung Đông, sự nổi dậy của nhà nƣớc Hồi giáo tự xƣng (IS)… Do vậy, Mỹ đã phải điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hƣớng tăng cƣờng hợp tác đa phƣơng để có thể nhanh chóng phục hồi nền kinh tế cũng nhƣ thuận lợi hơn trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế. Việc Mỹ tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc trên thế giới, trong đó có Myanmar đã góp phần gia tăng cạnh tranh ảnh hƣởng với Trung Quốc tại quốc gia chùa vàng này. Mặc dù tăng trƣởng kinh tế Trung Quốc trong những năm gần đây có chiều hƣớng suy giảm, không còn đạt mức hai con số nhƣ thập niên trƣớc do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nổ ra từ 2008 và những thách thức mới bên trong đang nổi, nhất là giảm phát và nợ xấu tăng nhanh, nhƣng vẫn đạt mức khoảng 8%/ năm, cao vào hàng đầu thế giới.6 Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đã và sẽ làm thay đổi cán cân so sánh sức mạnh tổng hợp giữa các nƣớc lớn: vị thế của Mỹ đang giảm sút và vị thế của Trung Quốc đang tăng lên trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới.
Trung Quốc đã trở thành quốc gia có dự trữ ngoại hối khổng lồ, tích cực mua lại các tài sản bên ngoài nhƣ mua trái phiếu chính phủ Mỹ để gia tăng áp lực, khống chế Mỹ. Tính đến tháng 12/2009, Trung Quốc đã mua tổng cộng 938,3 tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ và trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Dự trữ ngoại hối tăng nhanh chóng, tính đến hết tháng 3/2010 đã lập kỷ lục mới đạt 2447,1 tỷ 4 Võ Hồ Bảo Hạnh, Nhìn lại tình hình kinh tế thế giới 5 năm qua và một số triển vọng năm 2014, Tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, trang 64 5 Theo Bloomberg, Năm 2009, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng 23% lên 2,4 nghìn tỷ USD, http://www.vn/Tin-tuc/N518/N52/Nam-2009-Du-Tru-Ngoai-Te-Cua-Trung-Quoc-Tang-23- Len-24-Nghin-Ty-Usd.aspx?AspxAutoDetectCookieSupport=1, truy cập 13/3/2018 6 Trần Khánh, Hợp tác và cạnh tranh chiến lƣợc Mỹ-Trung ở Đông Nam Á ba thập niên đầu sau chiến tranh lạnh, NXB Thế giới, Hà Nội, 2014, trang 252 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com USD, trở thành nƣớc có mức dự trữ ngoại hối lớn nhất của thế giới7. Sự lớn mạnh nhanh chóng về kinh tế đã giúp Trung Quốc trở thành một quốc gia quan trọng hơn trong các lĩnh vực nhƣ quân sự và ngoại giao.
Trung Quốc hiện nay đang là tâm điểm cho các vấn đề liên quan đến tình hình an ninh khu vực CA-TBD nhƣ vấn đề Đài Loan, tranh chấp Biển Đông, vấn đề Triều Tiên. Cùng với việc tăng cƣờng sức mạnh hải quân, Trung Quốc đã chính thức bắt đầu sự hiện diện của mình nhƣ một cƣờng quốc hải quân. Hành động này của Trung Quốc làm gia tăng những lo ngại về an ninh của khu vực. Sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc cũng là một nhân tố góp phần làm cho cạnh tranh ảnh hƣởng Mỹ-Trung trên thế giới nói chung và tại Myanmar nói riêng ngày càng gia tăng.
CA-TBD là khu vực rộng lớn bao gồm gần 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với nền kinh tế phát triển năng động và nhiều trung tâm tài chính lớn vào bậc nhất thế giới. Về chính trị, CA-TBD là nơi tập trung quyền lực của nhiều nƣớc lớn từ các châu lục khác nhau nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản với nhiều cơ chế hợp tác song phƣơng và đa phƣơng quan trọng. Về an ninh, tuy xu hƣớng hợp tác để phát triển vẫn đóng vai trò chủ đạo tại khu vực nhƣng hiện nay còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định nhƣ tranh chấp về ảnh hƣởng và quyền lực, về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nƣớc ngày càng gay gắt, cùng với những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nƣớc. Hiện nay, tại khu vực xuất hiện các hình thức tập hợp lực lƣợng và đan xen lợi ích mới.