CHƯƠNG I. Truyền thông đại chúng 1. Khái niệm Trong cấu trúc của truyền thông, tồn tại khái niệm “Truyền thông đại chúng” (mass communication). Thuật ngữ này lần đầu xuất hiện trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên hợp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục (UNESCO) năm 1946 và từ đầu thế kỷ 20, khái niệm này ngày một lan rộng khi các phương tiện truyền hình, phát thanh, mạng xã hội phát triển.
Khi xã hội phát triển, các yếu tố tham gia vào quá trình truyền thông đại chúng như nguồn phát, thông điệp, các kênh, công chúng cũng thay đổi đa dạng hơn, không có định nghĩa cụ thể cho “Truyền thông đại chúng”, mà cụm từ này được hiểu theo những nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận. Theo Janowitz, “Truyền thông đại chúng bao gồm các định chế và các kỹ thuật mà nhờ đó những nhóm chuyên môn sử dụng những thiết bị công nghệ như máy in, radio, phim,. để truyền phát nội dung biểu tượng đến công chúng lớn”.Wilson và Stan R.Wilson, “Truyền thông đại chúng là một quy trình mà những nhà truyền thông chuyên nghiệp sử dụng những phương tiện kỹ thuật để chia sẻ thông tin vượt qua khoảng cách về không gian nhằm gây ảnh hưởng đến quảng đại quần chúng, khán thính giả.5 Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững, “Nhìn từ bình diện giao tiếp, truyền thông đại chúng là kênh giao tiếp đại chúng với đặc trưng bản chất là nhiều người tham gia về những chủ đề mà họ quan tâm, với tần suất ngày càng gia tăng”. Còn “Dưới góc độ tiếp cận từ các phương tiện kỹ thuật, truyền thông đại chúng là tổ hợp các kênh truyền thông chuyển tải thông điệp tới đông đảo nhân dân”.6 Bên cạnh đó, “Truyền thông đại chúng còn được hiểu là hoạt động truyền thông - giao tiếp xã hội trên phạm vi rộng lớn được thực hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông.
Với sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật và công nghệ số, truyền thông đa phương tiện được xem là một trong những xu hướng chính của truyền thông đại chúng trong thời đại công nghệ 4. Đặc điểm 4 TS. Vũ Tuấn Anh, 2020, Giáo trình Phương pháp nghiên cứu truyền thông. NXB Khoa học Xã hội, tr.
TS Lê Thanh Bình 2021, Giáo trình Truyền thông đối ngoại, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.16-17 6 PGS, TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng, 2018, Tài liệu đã dẫn 8 Trước hết, “truyền thông đại chúng” biểu hiện tính đại chúng của nguồn phát (nhà báo chuyên nghiệp, “nhà báo không chuyên”, các chuyên gia, công chúng rộng rãi,.); đại chúng về thông điệp (mang tính phổ biến, liên quan đến nhiều người, hình thức và nội dung thông điệp…); đại chúng về kênh phát (có thể bằng báo in, radio, truyền hình, Internet,.); đại chúng về công chúng tiếp nhận (trong nước, ngoài nước, giới tính, nghề nghiệp,.8 Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững và PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng đề cập đến 7 đặc tính của truyền thông đại chúng9, bao gồm: (1) Tính công khai: do các vấn đề của truyền thông có liên quan và ảnh hưởng đến nhiều người; (2) Tính phổ cập: các thông điệp truyền thông hướng đến đối tượng đông đảo công chúng trong xã hội; (3) Tính mục đích: mỗi thông điệp trong truyền thông đại chúng đều mang mục đích của nhà truyền thông; (4) Tính phong phú, đa dạng, đa chiều: có nhiều cách và hình thức thể hiện khác nhau, đối tượng tiếp nhận và phản ảnh ở nhiều lĩnh vực khác nhau; (5) Tính dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm theo; (6) Tính gián tiếp: các thông điệp của truyền thông đại chúng được truyền tải thông qua các phương tiện của truyền thông đại chúng chứ không tiếp xúc trong quá trình phổ cập và phát tán thông tin; (7) Tính chất tương tác tỉ lệ thuận với hiệu quả của quá trình truyền thông: có sự tham gia rộng rãi của nhiều nhóm công chúng khác nhau, thể hiện tính tương tác qua lại. Chức năng Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội, phải kể đến vai trò đối với công chúng, xã hội, xa hơn là đối với kinh tế và chính trị. 7 Công ty TNHH Nghiên cứu và Tư vấn Quốc Việt, (2018). Nghiên cứu truyền thông – Vai trò của truyền thông, xem ngày 24/10/2021, <http://qvcorp.vn/tin-tuc-1/Nghien-cuu-truyen-thong-Vai-tro-cua-truyen-thong-747.
TS Lê Thanh Bình: Giáo trình Truyền thông đối ngoại, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr22,23. TS Lê Thanh Bình: Giáo trình Truyền thông đối ngoại, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr23,24. 9 Với công chúng, truyền thông đại chúng có chức năng khởi nguồn và cơ bản nhất là thông tin – giao tiếp, thỏa mãn nhu cầu của công chúng: được biết thông tin và để giải trí, tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa và giáo dục tư tưởng… Với xã hội, truyền thông đại chúng tạo ra sức mạnh truyền thông, góp phần phản biện và kiến tạo dư luận xã hội, đồng thời xây dựng và bồi đắng giá trị văn hóa và thế giới quan cho cộng đồng. Với kinh tế, nhờ có truyền thông đại chúng mà doanh nghiệp có thể quảng bá sản phẩm và dịch vụ và cũng chính là nhu cầu của bản thân các kênh truyền thông đại chúng để thu lợi.
Các kênh truyền thông đều cần có ngân sách để thu, chi hay đổi mới công nghệ. Truyền thông đại chúng còn là động lực thúc đẩy kinh tế, khi các kênh truyền thông phải luôn vận động để cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Hiện nay, truyền thông nói chung và truyền thông đại chúng nói riêng cũng đang góp phần giải quyết vấn đề thiếu việc làm trong xã hội và tạo giá trị kinh tế cho mỗi quốc gia, khu vực. Với chính trị, ngoài hai chức năng hàng đầu về giám sát và phản biện xã hội, truyền thông đại chúng còn cung cấp thông tin về các thay đổi chính sách của cơ quan nhà nước tới người dân, thuyết phục công chúng thay đổi ý thức, hành vi đúng với pháp luật.
Chính phủ nhờ truyền thông để thăm dò ý kiến của dư luận trước khi ban hành các văn bản pháp lý, bởi vậy Nhà nước khi điều chỉnh các chính sách quản lý sẽ tạo ra được sự đồng thuận cao hơn từ công chúng. Truyền thông đối ngoại 2. Khái niệm Truyền thông đối ngoại là quan hệ trao đổi, thu nhận, tương tác thông tin, truyền phát thông điệp giữa hai quốc gia với nhau nhằm mang lại lợi ích song phương. Đó là quan hệ truyền thông trực tiếp, gián tiếp thông qua nhiều kênh, theo các thiết chế, nhu cầu do hai nước thỏa thuận hoặc theo thông lệ, pháp luật quốc tế.
Truyền thông đối ngoại là tổng thể mọi hoạt động liên quan đến nguồn phát, thông điệp, công chúng, phương thức truyền thông, chủ thể, công nghệ truyền thông.của một nước đối với nước khác. Truyền thông đối ngoại còn là một bộ phận quan trọng hợp thành chính sách đối ngoại của một quốc gia, liên quan đến công tác tư tưởng, nhận thức chính trị, 10 PGS. TS Lê Thanh Bình: Giáo trình Truyền thông đối ngoại, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 10 văn hóa - xã hội, dân trí của quốc gia đó, góp phần vào việc tăng cường vị thế quốc gia.
Vai trò Truyền thông đối ngoại luôn xác định một bên là ai (quốc gia chủ thể) và bên kia là các quốc gia còn lại. Do luôn gắn với một quốc gia cụ thể nên sẽ luôn tồn tại chính sách, chiến lược truyền thông đối ngoại rõ ràng, cụ thể mang lại lợi ích quốc gia chủ thể và phục vụ các quyền lợi liên quan đã được các bên tham gia thỏa thuận. Vì muốn bảo vệ quyền lợi quốc gia nên trong truyền thông đối ngoại, chủ thể thường không muốn truyền đạt thông điệp tiêu cực, không tự làm “hở sườn” của mình, không tự “vạch áo cho người xem lưng” 12. Công tác truyền thông đối ngoại có vai trò thực hiện hai chiều thông tin.
Thứ nhất, thông tin về tình hình trong nước ra nước ngoài. Đối với công tác này, nội dung thông tin thay đổi tùy thuộc vào từng địa bàn, từng giai đoạn phát triển của quốc gia đó, cũng như từng đối tượng và yêu cầu đặt ra tại từng thời điểm để xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm phù hợp. Thứ hai, thông tin về tình hình thế giới, khu vực vào trong nước. Với tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin và trình độ dân trí ngày càng cao, người dân có khả năng tiếp cận trực tiếp với mọi thông tin trên thế giới thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, do đó, truyền thông đối ngoại có nhiệm vụ hết sức quan trọng là đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân về tình hình quốc tế và đường lối, chính sách đối ngoại của đất nước.
Xét về lợi ích quốc gia, thực hiện tốt công tác truyền thông đối ngoại sẽ giúp thế giới hiểu hơn về đất nước, con người, về những giá trị văn hóa, vật chất, tinh thần của dân tộc Việt Nam; nâng cao hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; góp phần thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế của đất nước ta, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Thực hiện tốt công tác truyền thông đối ngoại còn góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội. TS Lê Thanh Bình: Giáo trình Truyền thông đối ngoại, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021. 12 Xin Zhong, Jiayi Lu, Public diplomacy meets social media: A study of the U.
Embassy's blogs and micro- blogs (12/2013), xem ngày 22/10/2021 <https://www.com/science/article/abs/pii/S036381111300091X> 11 Chương II. Xu hướng Truyền thông đối ngoại Mỹ dưới thời Joe Biden II. Tổng quan về Truyền thông đối ngoại Mỹ 1. Khái niệm Về bản chất, truyền thông đối ngoại là quan hệ trao đổi, thu nhận thông tin, truyền phát thông điệp giữa hai quốc gia với nhau nhằm mang lại lợi ích song phương.
Truyền thông đối ngoại là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách đối ngoại quốc gia.13 Tại Mỹ, mặc dù là quốc gia đi đầu trong việc xây dựng truyền thông đối ngoại tiêu biểu từ Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng “truyền thông đối ngoại” không có thuật ngữ cụ thể tương ứng. Song, công chúng vẫn có thể hiểu các cụm như External Communication, Foreign Communication Relation hay Media Diplomacy biểu thị cho các hoạt động truyền thông đối ngoại của Mỹ. Từ đây có thể thấy, truyền thông đối ngoại là một thành tố quan trọng của hoạt động ngoại giao công chúng (Public Diplomacy) của Mỹ.