chương 1 Cảm thức hiện sinh đã có mặt ở Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ XX, nhưng nó đã có những ảnh hưởng nhất định của riêng mình trong đời sống văn hóa lúc đó. Mặc dù tiếp nhận sau Miền Nam nhưng hiện sinh góp một phần to lớn làm thay đổi, phát huy theo hướng tích cực của văn học dân tộc ở ngoài Miền Bắc. Lưu Quang Vũ cũng ảnh hưởng bới hiện sinh trong những vần thơ của mình. Những vần thơ của ông không còn là những lời ca ngợi khích lệ… trong chiến tranh nữa mà giờ đây nó khắc sâu đổ vỡ, tôn trọng tâm sự cảnh ngộ cá nhân dường như đã thấm đẫm trong thơ ca của ông.
19 Chương 2 CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TUYỂN THƠ GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI CỦA LƯU QUANG VŨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2. Cảm thức hiện sinh về nỗi cô đơn và khao khát đi tìm cái tôi bản thể Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cảm thức là nhận thức bằng cảm quan; nhận thức bằng cảm giác” [46;135]. Như vậy, cảm thức của con người là sự nhận thức được những xúc cảm đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng cụ thể trong đời sống và mang lại cảm thức riêng cho mỗi cá nhân. “Cảm thức hiện sinh trong văn học là sự thể hiện những sắc thái hiện sinh trong quá trình sáng tác của nhà văn một cách cảm tính (không chủ ý)” [60] Chủ nghĩa hiện sinh đề cập đến “sự bi đát về tội lỗi của con người trong thời đại mất Chúa” và tái hiện cuộc sống con người như đang tồn tại.
Kierkegaard cho rằng con người chính là hiện sinh của sự độc đáo, cũng là những con người huyền bí, vì mỗi con người khi sinh ra đã là một vũ trụ đóng kín không ai hiểu nỗi và không thể phát lộ nội tâm phức tạp ấy với bất kỳ ai. Do đó, chính con người chúng ta luôn phải tự mình chịu trách nhiệm trước thân phận của chúng ta, từ đó luôn luôn lựa chọn để tự do. Tuy nhiên sự lựa chọn này không hề dễ vì ý thức bản thể khép kín, cô độc ấy sẽ làm cho con người dằn vặt, luôn luôn âu lo. Bên cạnh việc đề cập đến con người cô đơn thì Lưu Quang Vũ vẫn còn đề cập đến cả con người hoài nghi, tự vấn và khát khao tình yêu.
Con người cô đơn Đó là bản thể là kiểu loại nhân vật có tính cách, suy nghĩ và hành xử riêng, thể hiện chiều sâu triết lí trong cách cảm nhận về cuộc sống nhưng lại luôn mang tâm thức cá nhân bị kết án lưu đày trong nỗi cô đơn, họ cảm nhận một cách sâu sắc nỗi đau bị bỏ rơi và cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Nỗi cô đơn đó gắn liền với nỗi đau bản thể của mỗi con người. Theo Từ điển tiếng 20 Việt, cô đơn là “chỉ có một mình, không có người thân, không nơi nương tựa”. Ví dụ như: cảnh cô đơn, con người cô đơn” (Hoàng Phê, 2002).
Theo Từ điển tâm lý, cô đơn là “một trong những căn nguyên của tâm lý gây ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của con người khi rơi vào tình huống không quen thuộc (bị thay đổi) hoặc hoàn cảnh bị cách ly với người khác” (Nguyễn Khắc Viện, 2001). Khi đưa khái niệm này vào văn chương, chúng ta có thể hiểu cô đơn chính là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy hoang mang, lạc lõng khi bị tách rời khỏi thế giới xung quanh. Đó còn là đặc tính thuộc về bản chất của con người và con người ý thức được nỗi cô đơn của bản thân, hiểu được vị thế bản thể cá nhân nhỏ bé, bơ vơ, thiếu điểm tựa và ra sức cự tuyệt, hoặc chấp nhận hoặc cải thiện nó. Con người hiện sinh luôn ý thức được sự tồn tại độc đáo của mình và thấy bất hòa với thực tại nên họ cô đơn, lạc lõng và trở nên xa lạ.
Con người cô đơn trên hành trình truy tìm bản thể Lưu Quang Vũ, khi tách mình ra khỏi dòng chung, dường như đã “lạc” vào địa hạt của chủ nghĩa hiện sinh. Ông luôn truy tìm bản thể, ngẫm suy thân phận người. Mình là mình hay mình là một ai khác mình. Trạng thái lưu đày tâm tưởng này luôn dằng đặc trong thơ Vũ.
Thật ra khi ý thức được sự tồn tại như là một chủ thể độc lập của cái tôi, con người dễ rơi vào cảm thức tự khẳng định mình và chối bỏ hết mọi thứ xung quanh mà bản thân khó có thể nào chấp nhận. Để bảo toàn ý niệm cá nhân con người ta thường tìm đến sự cô đơn như là sự giải thoát chính mình khỏi những bất hạnh, khổ đau từ nghịch cảnh. Như vậy cảm quan cô đơn tồn tại trong thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bắt nguồn từ thực tại cuộc sống “rối bời” mà còn là ý thức mãnh liệt về sự lưu giữ duy nhất của cái tôi vô thức lẻ loi. Vì thế rất dễ nhận thấy trong thơ ông là tiếng nói “lẻ loi”, “cơn mơ thảng thốt”, là “bóng tối”, “phố đêm lưu lạc”, thậm chí có cả “gió độc” và “mặt trời trong nước lạnh”… 21 Những hình ảnh này gợi dẫn chúng ta về sự đơn độc, về ẩn ức của cái tôi vô thức luôn dằn vặt với những ngột ngạt, bế tắc quanh mình.
Lưu Quang Vũ chẳng phải đã thú nhận rằng ông là một đại diện của tâm hồn cô đơn trên hành trình truy tìm bản thể: “Như những đứa trẻ con bị bỏ rơi lăn lóc Đêm nay, tôi chẳng biết lối về Phía nào cũng hàng rào trước mắt Thế giới có bao nhiêu tường vách Ngăn cản con người đến với nhau Sao tôi lại muốn em tin Khi chính tôi cũng chẳng tin ai cả Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao Giữa sự thông minh của đông vui bè bạn Vứt sách xuống gầm bàn đi ra mặt trận Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi Nỗi cô đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…” (Mấy đoạn thơ. “Lẻ loi”, “hồ nghi”, “chẳng tin ai”. là biểu hiện về ý thức phản tư rõ rệt. Điều này cũng cho thấy cái tôi cô đơn Lưu Quang Vũ hiện hữu ngay cả trong yêu thương và từ những tháng năm hồn nhiên nhất của cuộc đời.
Ông luôn cảm thấy lẻ loi, mất điểm tựa với tất cả mọi thứ quanh mình để rồi tháng ngày trôi qua bên ông luôn đằng đẵng “nỗi cô đơn hoàn toàn nỗi cô đơn khủng khiếp”, cả “trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…” (Mấy đoạn thơ). 22 Không chỉ có Lưu Quang Vũ, nhà thơ Nguyễn Vỹ cũng viết về số phận bi kịch của con người như trong bài: Sương rơi, Hoàng hôn, Tiếng chuông chùa, Hai con chó… “Một đàn/ Cò con/ Trắng nõn/ Trắng non/ Bay về/ Sườn non/ Gió giục/ Mây dồn/ Tiếng gọi/ Hoàng hôn/ Buồn bã/ Nỉ non/ Từ giã/ Cô thôn…/ Còn con/ Cò con/ Trắng non/ Nào kia/ Lạc bầy/ Lại bay/ Vào mây/ Ô kìa!” (Hoàng Hôn). Khi so sánh với Nguyễn Vỹ, thì Lưu Quang Vũ chú trọng hơn vào nỗi cô đơn của phận người. Ông không miêu tả nhiều cảnh vật thiên nhiên như Nguyễn Vỹ mà trực tiếp bộc lộ nỗi cô đơn của chủ thể.
Ông muốn thể hiện nỗi cô đơn của mình và nhiều người khác trên hành trình truy tìm bản thể. Như trong bài “Hoa cẩm chướng trong mưa”: “Nỗi cô đơn tuyệt vọng…” Nỗi cô đơn trong thơ của Lưu Quang Vũ thường được so sánh trực tiếp với những vật hữu hình như “cuốn sách buồn”, “ống sậy cô đơn”, “giọt nước mắt”,…Cách hữu hình hoá nỗi cô đơn giúp cho nhà thơ thể hiện kiệt cùng nỗi tuyệt vọng, cô đơn của đời người. Nỗi cô đơn được tác giả thể hiện như một ám ảnh vô thức thông qua các hình ảnh hữu hình: “Một nhà ga cô quạnh/Một người đàn bà ướt lạnh/Đứng chờ anh” (Không đề I). Đó là người đàn bà ướt lạnh cô đơn đứng chờ mãi một ai đó trước sân ga cô quạnh.
Nỗi buồn thân phận, sự cô đơn dường như luôn xuất hiện trong những hình ảnh thơ của ông: “Cả cuộc đời là ở sân ga/Trước chuyến đi vô tận/Cuộc lên đường tối tăm đơn độc/Người ta chết có một mình/Đó là điều buồn nhất” (Lời cuối). Nỗi cô đơn còn được đặt trong những cuộc hẹn hò tưởng chừng viên mãn, nhưng chỉ toàn sự lặng im và đầy ắp nỗi buồn “Anh có hẹn đâu, anh chả nói câu nào/Anh chỉ buồn thôi, em chỉ buồn thôi, ai biết?” (Bầy ong trong đêm sâu), nên “Phải xa em anh chẳng còn gì nữa /Chẳng còn gì, kể cả nỗi cô đơn” (Em vắng). 23 Nỗi cô đơn trong con người còn lan toả, bao trùm cả khung cảnh thiên nhiên: “Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang /Nơi ấp ủ con dế mèn cô độc” (Đất nước đàn bầu). Hay “Chẳng có chi phía trước để mong chờ/Chỉ còn lại một màu hoa gay gắt/ Cái màu hoa cô độc/Nở âm thầm trong giá buốt heo may” (Những đêm hoa vàng).
Bài thơ Lá thu có lẽ là sáng tác kết tinh cụ thể, tinh tế nhất niềm cô đơn gắn với nỗi đau thân phận: “Em u buồn em có nhận hay không/ Em gầy như huệ trắng xanh/Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm/Em tê dại em âm thầm kiêu hãnh/Em cô đơn như biển lạ lùng ơi”(Lá thu) Hay: “Mai em đi mùa hạ cũng qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng (…) Đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực/Tôi muốn đi tới vách cùng em” (Lá thu) và cô đơn sợ hãi trước “miệng vực” cuộc đời: “Tôi tan nát tôi kinh hoàng sợ hãi/Em cô đơn rồ dại của tôi ơi” (Lá thu). Bên cạnh đó, Lưu Quang Vũ còn thấu cảm được sự vô vọng của kiếp người và đã chia sẻ trong thơ: “Mưa cướp đi ánh sáng của ngày Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ Hạnh phúc con người mong manh mưa sa” (Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa). Khi sự hữu hạn của đời người mong manh, thì hạnh phúc cũng hoá nhạt nhoà như sương như khói. Lưu Quang Vũ ý thức về sự hữu hạn của đời người và dự cảm được về sự tàn phai nhanh chóng của hạnh phúc, thế nên, tác giả luôn lo sợ sự chóng vánh của tình yêu và chính điều đó đã giúp cho ông nhận ra: “Chúng ta gặp nhau quá muộn trong đời/Tôi chỉ là cây trong nỗi buồn bão gió/Tự hiểu nhé với nụ cười bồn bã…”(Gửi…).