CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG Hiện nay, thuật ngữ “Hiện sinh” không còn là khái niệm lạ lẫm với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và công chúng. Vào ngày 29/11/1945 tại Paris với bài phát biểu của mình, J. Sartre đã đem “hiện sinh” đã đến gần với công chúng. Khi nhắc đến hiện sinh là nhắc đến sự đắm mình trong một trạng thái nồng nhiệt, đầy sự sáng tạo, “một cái gì co thắt, ràng buộc để rồi tự giải hóa, phân tích cho chính nó, một tự do thực sự - mãi mãi tự do”.
Lịch sử ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là Thuyết Sinh tồn, Thuyết Hiện sinh, Triết Hiện sinh, phong trào hiện sinh) là một trào lưu triết học phi duy lí phát triển chóng mặt ở châu Âu. Nó nhanh chóng được lan tỏa và trở thành “thị hiếu” sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tiền đề xã hội Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội phương Tây lâm vào khủng hoảng, điều này dẫn đến tình trạng chấn thương tinh thần. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hàng loạt những cuộc phản kháng và sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh.
Sự xuất hiện của chủ nghĩa này khá đặc biệt. Nó phần nào đi ra từ ảnh hưởng của khói lửa, bom đạn chiến tranh bởi hai cuộc tranh thế giới, từ sự bất lực của khoa học và sự bế tắc của các tư tưởng phương Tây thế kỷ XIX. Hoàn cảnh tang thương đó bộc lộ sự vô nhân đạo trong chính nền tảng của nền văn minh khoa học kỹ thuật, trong mối quan hệ giữa con người với con người. Những thế hệ thanh niên trở nên vô danh, trống rỗng “như những con số vô danh, những tấm thẻ vô hồn, trong bộ máy chiến tranh khủng lồ” (Nguyễn Hào Hải, 2001, tr.
Nhìn lại chặng đường lịch sử Châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX chúng ta có thể thấy đây là khoảng thời gian hoàng kim của một châu Âu phát triển không ngừng về mọi mặt nhưng đồng thời cũng chứa đựng những nỗi bất an và hiểm họa. Hai cuộc cách mạng lớn trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật đưa nhân loại bước vào thời kỳ phát triển sản xuất. Điều này, làm thay đổi diện mạo đời sống vật chất cũng như tinh thần con người. Bên cạnh sự vượt trội đó, những cuộc cách mạng này cũng gây ra những hệ lụy.
Sự đe dọa từ vũ khí, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông… đã tạo nên những mối lo âu nặng nề trong tinh thần con người hiện đại. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng bổ tại Đức – một cường quốc về kinh kế, kỹ thuật ở châu Âu đã gây ra nhiều thương tổn về mặt tinh thần “kết thúc bốn năm máu chảy thịt rơi của hàng triệu con người hi sinh cho tử thần và 13 không cho một chính nghĩa nào cả, con người cơ hồ thấy mình biến thành con số vô danh hay những tấm thẻ vô hồn trong guồng máy chiến tranh. Thú tính hoặc cơ tính đã thay thế cho nhân tính” (Trần Văn Toàn, 2000, tr. Những vết thương về thể xác và tinh thần từ chiến tranh để lại dẫn dân chúng tìm đến chủ nghĩa hiện sinh.
Đây được xem như là liều thuốc an thần nhằm giúp họ thích ứng với những mất mát tinh thần và những bi kịch mà họ đang gánh chịu. Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh đã hình thành chính thức ở Đức sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, một lần nữa những nỗi đau và sự mất mát hiện hữu khắp toàn cầu. Điều này dẫn đến một làn sóng thứ hai của chủ nghĩa hiện sinh được bùng nổ tại Pháp.
Con người phải chắp vá những vết thương, đồng thời họ cố gắng phản kháng để bảo tồn những giá trị cốt lõi của con người. Họ như rơi vào một khoảng không không xác định với những nỗi âu lo choáng ngợp, chứng kiến sự điêu tàn và ngã rụi, quá khứ bị phá hủy, hiện tại đau thương và tàn khốc, tương lai bất định, trống rỗng. Những điều đó đã tạo nên một tâm lí tuyệt vọng, bất lực, không thể cứu vớt được những giá trị hiện hữu. Đây cũng là một loại tâm lí chung bao phủ khắp châu Âu thế kỷ XX.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đánh dấu bằng thuyết tương đối của Einstein, với thuyết tương đối đặc biệt công bố vào năm 1905 và thuyết tương đối tổng quát công bố vào cuối năm 1915 và đầu năm 1916. Bộ mặt cũ kỹ suốt hàng mấy thế kỷ qua của phương Tây đã hoàn toàn thay đổi. Khoa học được xem như ánh sáng, tái tạo lại một thế giới huy hoàng, phát triển tiến bộ. Tuy nhiên, nơi nào phát triển nơi đó có đấu tranh, những cuộc đụng độ không nhân nhượng, những tranh chấp, mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa các quốc gia hoặc các giai cấp xã hội hay sự suy đồi tinh thần là những minh chứng cho thấy một nền văn minh vật chất gai góc, một nền khoa học không trọn vẹn như lí tưởng ban đầu.
Điều này dẫn đến một xã hội đầy bất công và bóc lột. Chính trong hoàn cảnh này, con người tìm đến phi duy lí như “tìm đến một đối trọng của tinh thần duy lí thực nghiệm” (Nguyễn Tiến Dũng, Võ Anh Tuấn, 2015, tr. Họ gạt bỏ những vùng sáng của khoa học, họ gạt bỏ lí trí, thay vào đó là những trực giác, tâm linh là điểm tựa. “Chủ nghĩa hiện sinh - với tư cách là một khuynh hướng phi duy lí tiêu biểu - là sự phản ứng của con người trước hoàn cảnh tàn khốc, bi ai của cuộc chiến tranh; là sự cứu rỗi về tâm linh đối với thân phận con người bị bỏ quên trong một xã hội đầy duy lí; là sự phản ứng lại tính tuyệt đối của khoa học kỹ thuật.
Nói theo một cách khác, chủ nghĩa hiện sinh ra đời nhằm phản ứng lại sự duy lí đã đạt tới đỉnh điểm, khi các cá nhân trở thành mảnh vỡ giống nhau trong một ống kính vạn hoa quay tít bằng ánh sáng của các thành tựu khoa học và lối sống sùng bái sức mạnh vật chất bộc lộ mặt trái của nó” (Nguyễn Tiến Dũng, Võ 14 Anh Tuấn, 2015, tr. Chính vì điều đó, J. Sartre đã quả quyết “Hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản (Existentialism is Humanism)” và Sartre “đặt con người vào tâm điểm chú ý cao nhất trên thang giá trị của nó” (Đinh Hồng Phúc, 2018, tr. Bị đặt vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, bị đe dọa dữ dội, những người dân ở phương Tây bị sụp đổ tinh thần.
Họ dần trở nên bi quan, không biết đặt niềm tin vô đâu khi mọi điều diễn ra đều phi lí và vô nghĩa. Do đó, con người chịu hàng loạt những cảm xúc hoang mang, suy sụp, chán nản, buồn nôn, phi lí…Cho nên, chủ nghĩa hiện sinh được xem như triết học của sự khủng hoảng, xuất hiện trong thời kỳ biến thiên xã hội, sự khủng hoảng diễn ra không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, chính trị mà còn trên cả lĩnh vực tinh thần. Những tiền đề lí luận Bên cạnh khoa học kỹ thuật, yếu tố quyết định gần như tuyệt đối, đưa đến nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa hiện sinh không thể không nói đến những dư chấn tinh thần mà chủ nghĩa duy lí đã tạo ra trong lòng xã hội phương Tây hiện đại. Những dấu vết từ thời kỳ Hy Lạp cổ lại ở Socrate cũng xuất hiện nguồn gốc chủ nghĩa hiện sinh.
Thời kỳ này các nhà khoa học đề cao thế giới tự nhiên. Socrate, một nhà hiền triết đã đưa một câu châm ngôn “Hãy tự biết mình”. Con người chính là trung tâm được quan tâm hơn cả, mọi điều liên quan đến con người từ bản chất đến cuộc sống cần được chú trọng. Tuy nhiên, những phát ngôn vẫn không tác động đến thời đại, hướng nghiên cứu về thế giới tự nhiên vẫn được say mê và đề cao.
Với những nhà nghiên cứu thế giới tự nhiên, con người chỉ là một phần tạo nên thế giới tuyệt mĩ ấy. Triết học phương Tây hình thành khuynh hướng đối lập, hoài nghi về thế giới khoa học. Pascal từng khẳng định “Con tim có những lí lẽ mà lí trí không thể hiểu được” (Nguyễn Hào Hải, 2001, tr. Song song đó, Kant cũng nhận ra những giới hạn của tư duy duy lí và ông bắt đầu chú ý đến những những vấn đề về cảm tính, linh cảm, trực giác của con người.
Nhân loại “bừng tỉnh” trước những nghịch lí mà khoa học kỹ thuật đem lại. Do đó, làn sóng chống chủ nghĩa duy lí phát triển mạnh mẽ. Arthur Schopenhauer đã nêu ra những quan niệm về tính chủ thể, hiện thực là do con người tưởng tượng ra “Thế giới là ý chí và tưởng tượng” [86]. Những tư tưởng này của ông góp phần tạo nên những nền tảng quan trọng cho chủ nghĩa hiện sinh.
Đặc biệt, đây là chính là nguồn khơi gợi cho Friedrich Wilhelm Nietzsche – cha đẻ của hiện sinh vô thần. 15 Một trong những thuyết ảnh hưởng đến chủ nghĩa hiện sinh là thuyết trực giác của Henri Bergson. Theo ông, để hiểu được hiện thực phải thông qua nhận thức bằng trực giác, điều này trái ngược hoàn toàn với các quan điểm duy lí nắm bắt cuộc sống dựa vào tư duy logic và phương pháp phân tích lí tính. Với quan điểm nhận thức bằng trực giác, bằng kinh nghiệm trực tiếp, Bergson đã nhận được sự ngợi ca và đón nhận từ các nhà hiện sinh.
Chính những học thuyết trên là những cơ sở để khẳng định sự manh nha của chủ nghĩa hiện sinh trong một số tư tưởng về vấn đề con người. Soren Kierkegaard và Friedrich Wilhelm Nietzsche được xem là hai vị triết gia “khai sinh” cho phong trào hiện sinh, dù cho họ chưa từng sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” trong bất cứ một phát ngôn nào của họ. Những hậu bối như J. CaMus theo trường phái vô thần hay hữu thần như G.Jaspers đều có những âm vọng bị ảnh hưởng từ họ.
Soren Kierkegaard được xem như đại diện cho quan điểm hiện sinh hữu thần. Ông quan niệm thế giới là những gì cá nhân thể nghiệm, nhận thức được. Khác với những sự vật khác, con người là một chủ thể riêng biệt, có những dấu ấn riêng về mặt cá tính. Do đó, chân lí mang tính chủ quan, tính cá nhân tuyệt đối.
Nhà triết học nhấn mạnh con người được quan tâm đến những yếu tố như ý chí, tình cảm riêng biệt, chứ không đơn thuần chỉ nói về những vấn đề thân thể hay lí trí. Chính vì vậy, con người cá nhân được xem là xuất phát điểm của triết học này.