CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY AGC 1. ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY Công ty AGC hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các thiết bị truyền thống như hệ thống viễn thông, hệ thống giám sát, hệ thống công nghệ thông tin, giải pháp phần mềm, ngoài ra còn mở rộng và phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế các ứng dụng công nghệ cao do vậy trình độ của cán bộ nhân viên trong công ty đều cao, đều được đào tạo có bài bản và có kinh nghiệm. Ngoài lao động chính thức trong công ty, công ty còn thuê lao động bên ngoài cho các công trình lắp đặt thiết bị. Hiện tại nhân công ty viên trong có tổng số là 17 người gồm cả Ban giám đốc và nhân viên các phòng ban Ban giám đốc : 2 người Phòng kỹ thuật : 8 người Phòng tài chính kế toán : 4 người Phòng kinh doanh, bán hàng: 3 người Theo tình hình lao động hiện tại, có thể phân loại lao động của công ty theo các cách sau đây : 1.
Phân loại theo tính chất của lao động Đối với mỗi doanh nghiệp nói chung và công ty nói riêng, việc xác định số lượng lao động cần thiết ở từng bộ phận có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề hình thành cơ cấu lao động tối ưu .Mặt khác, số lượng lao động là một trong những nhân tố cơ bản quyết định quy mô kết quả của sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động cần Phạm Thị Loan KT1 - K41 3 Báo cáo chuyên đề xác định mức tiết kiệm lãng phí, nếu thừa sẽ gây khó khăn cho quỹ tiền lương gây lãng phí lao động, ngược lại nếu thiếu sẽ không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào cho cơ cấu này hợp lý, điều này công AGC đang dần sắp xếp và tổ chức có hiệu quả. Hiện tại, theo tính chất lao động thì lao động trong công ty được chia thành lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp : là lao động trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh như tham gia thiết kế bản vẽ công trình , tư vấn cho khách hàng, lắp đặt thiết bị… Lao động gián tiếp : bao gồm Ban lãnh đạo công ty, các phòng ban không trực tiếp tham gia vào sản xuất kinh doanh như phòng tài chính kế toán, phòng kinh doanh, bán hàng Cơ cấu lao động theo tính chất lao động của công ty được bố trí cụ thể trong bảng Phân loại lao động sau đây : Bảng 1.1: Bảng phân loại lao động Các chỉ tiêu Tỷ trọng (%) Số lượng Tổng số lao động 17 100% 1.Theo tính chất lao động - Lao động trực tiếp 11 65% - Lao động gián tiếp 6 35% 2.Theo giới tính - Nữ 4 23.Theo trình độ - Đại học và trên đại học 15 88% - Cao đẳng 2 12% 4.Theo độ tuổi - Từ 25 đến 40 tuổi 2 12% - Từ 40 tuổi trở lên 15 88% Phạm Thị Loan KT1 - K41 4 Báo cáo chuyên đề Theo bảng số liệu trên ta thấy số lượng lao động gián tiếp có số lượng gần bằng lao động trực tiếp.Cơ cấu lao động của công ty khá hợp lý phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh.
Lao động gián tiếp có số lượng gọn nhẹ chiếm 35% tổng số lao động nhưng đảm bảo đáp ứng yêu cầu của công việc. Lao động trực tiếp có số lượng lớn chiếm 65% tổng số lao động, là lao động chính sản xuất ra sản phẩm tạo doanh thu và để phát triển sản xuất kinh doanh. Đây cũng là cơ cấu lao động phổ biến mà hiện tại các doanh nghiệp đang áp dụng. Trong quá trình sản xuất, trình độ của lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trình độ của lao động thể hiện chất lượng lao động, chất lượng lao động cao thì việc thực hiện công việc và hiệu quả công việc là tốt. Phân loại theo trình độ của lao động Hoạt động trong lĩnh vực đặc thù vực cung cấp các thiết bị truyền thông nên đội ngũ lao động trong công ty có trình độ nghiệp vụ cao, được đào tạo tại các trường đại học xây dựng, công nghệ thông tin … Với số lao động có bằng đại học và trên đại học là 15 người chiếm tỷ lệ 88%, cho thấy chất lượng lao động của công ty là rất cao, được đào tạo là các kỹ thuật viên, cử nhân kinh tế,…. Số lượng lao động có bằng cao đẳng là 2 người chỉ chiếm 12% tổng số lao động và tập trung chủ yếu ở phòng tài chính kế toán. Phân loại theo giới tính của lao động Việc phân loại lao động theo giới tính giúp công ty có thể quản lý tốt và có những chính sách, chế độ, hoạt động riêng cho từng giới.
Ngoài đảm bảo quyền lợi riêng cho hai giới cũng như quyền lợi dành cho các lao động nữ trong công ty. Phạm Thị Loan KT1 - K41 5 Báo cáo chuyên đề Theo số liệu về lao động tại công ty thì số lượng lao động của hai giới có sự chênh lệch rất lớn. Nguyên nhân là do xuất phát từ tính chất và đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty. Số lượng lao động nữ ít hơn rất nhiều so với lao động nam, với số lượng 4 người chiếm 23,5%, được bố trí chủ yếu ở phòng kế toán.
Trong khi số lượng lao động nam là 13 người chiếm tỷ trọng là 76,5% tổng số lao động. Tuy nhiên, ngày càng nhiều nữ giới tham gia lao động trong lĩnh vực xây dựng,công nghệ thông tin … do vậy công ty cũng cần điều chỉnh lại cơ cấu lao động theo giới tính không quá chênh lệch như hiện nay. Phân loại theo độ tuổi của lao động Xét về độ tuổi của lao động, ta thấy lao động ở độ tuổi từ 25 dến 40 tuổi chiếm đa số trong tổng số lao động. Số lượng lao động ở độ tuổi từ 25 dến 40 tuổi là 15 người tương ứng là 88% tổng số lao động.
Số lượng lao động ở độ tuổi từ 40 đến 55 tuổi là 2 người chỉ chiếm 12% tổng số lao động. Đội ngũ lao động trẻ phát huy được các thế mạnh của mình như thông minh, năng động, sáng tạo, nhiệt tình trong công việc và đảm bảo đáp ứng được yêu cầu đi công tác theo các công trình trên khắp các miền đất nước. Và đội ngũ lao động già tâm huyết với nghề, có nhiều kinh nghiệm quý báu qua nhiều năm trong ngành. Đây là hai lực lượng lao động có quan hệ mật thiết với nhau, đã và đang duy trì hoạt động và tạo ra những thành quả của công ty 1.
CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG CỦA CÔNG TY Công ty trả lương cho lao động theo sản phẩm, có tiến hành khoán quỹ lương tới từng bộ phận, đây là hình thức trả lương vừa chính xác và vừa khuyến khích lao động. Giám đốc và các phòng ban và bộ phận kế toán trong công ty có trách nhiệm trong việc tính và chi trả lương cho lao động. Các phòng ban lập bảng Phạm Thị Loan KT1 - K41 6 Báo cáo chuyên đề chấm công cho từng lao động và cuối tháng tính ra lương chi tiết của từng lao động trong phòng dựa trên tổng quỹ lương khoán của phòng theo doanh thu thực hiện trong kỳ. Giám đốc kí duyệt các bảng ứng lương tháng hay bảng quyết toán lương do kết toán trình lên.
Phòng kế toán tính ra lương tạm ứng của lao động, lập phiếu đề nghị thanh toán trình giám Hiện tại do số lượng nhân viên trong công ty chưa nhiều nên công ty vẫn đang áp dụng chế độ trả lương bằng tiền mặt do kế toán phát vào cuối kỳ lương. Công ty còn chế độ thưởng cho người lao động căn cứ vào doanh thu thực hiện trong kỳ, năng suất, tinh thần, thái độ của từng lao động. Trưởng các phòng ban trình danh sách lao động được xét thưởng lên cho giám đốc xét duyệt và chuyển về phòng kế toán để thanh toán. Đây là hình thức khuyến khích lao động làm việc có trách nhiệm có hiệu quả hơn nữa, vừa đảm bảo quyền lợi người lao động vừa tăng lợi nhuận cho công ty.
CHẾ ĐỘ TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY Công ty thực hiện trích các khoản theo lương bao gồm BHXH, BHYT, KPCĐ theo Công văn số 1540/BHXH-TP ngày 25/12/2009 của bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội cụ thể như sau : Bảo hiểm xã hộị : Quỹ BHXH là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, nghỉ hưu,… Theo chế độ tài chính hiện hành, quỹ BHXH hình thành bằng cách tính theo tỷ lệ phải nộp 24% trên tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Trong đó công ty phải nộp 17% tính vào chi phí trong kỳ và người lao động nộp 7% trừ vào thu nhập của họ. Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động tại Phạm Thị Loan KT1 - K41 7 Báo cáo chuyên đề doanh nghiệp trong các trường hợp họ bị ốm đau, nghỉ đẻ hoặc thai sản,… được tính toán trên cơ sở mức lương theo hệ số lương cơ bản, thời gian nghỉ và tỷ lệ trợ cấp BHXH. Khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và lập bảng thanh toán BHXH để làm cơ sở thanh toán với cơ quan quản lý quỹ.
Công ty sẽ nộp BHXH trích trong kỳ vào quỹ BHXH tại BHXH Hà Nội Quỹ BHYT: là quỹ được sử dụng để trợ cấp cho những người có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành công ty đang trích lập quỹ BHYT bằng cách trích lập 4,5% giá trị tiền lương cấp bậc, trong đó công ty nộp 3% còn người lao động nộp 1,5%. Quỹ BHYT được thống nhất do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế. Kinh phí công đoàn : là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn trong công ty.
KPCĐ do công ty nộp theo quy định của nhà nước 2% trên tổng quỹ lương phải trả cho người lao động và công ty chịu toàn bộ và tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ. Kinh phí công đoàn trong công ty được chi tiêu trong hoạt động công đoàn khuyến khích người lao động .