CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có không ít đề tài nghiên cứu gắn liền với công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất. Để tìm hiểu rõ hơn về kế toán quản trị chi phí sản xuất em đã tìm hiểu về một số đề tài của những người đi trước. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước về đề tài này: Hoàng Bích Diệp (2017) trong nghiên cứu về “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long” đã xác đinh: - Về đối tượng nghiên cứu: Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long.
- Về phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng về quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long. - Về kết quả nghiên cứu: Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán quản trị chi phí sản xuất như: Trên thực tế tổ chức kế toán ở công ty đã có những biểu hiện của kế toán quản trị. Song kế toán quản trị chưa thực sự được sử dụng đúng với vai trò quan trọng của nó thể hiện: Thứ nhất, về việc phân loại chi phí chưa đáp ứng yêu cầu kế toán quản trị chi phí sản xuất: Các khoản chi phí trong công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long hầu hết được phân loại theo khoản mục chi phí chứ chưa được phân loại theo cách ứng xử của chi phí. Vì vậy, những thông tin về chi phí do kế toán tài chính cung cấp không đủ đáp ứng yêu cầu phân tích, đánh giá hoạt động doanh nghiệp.
Ví dụ như, kế toán tại các công ty có thể cung cấp một số liệu tổng hợp các khoản chi phí sản xuất chung thực tế của một công trình nào đó nhưng không cung cấp được cụ thể trong tổng số chi phí sản xuất chung đưa ra đó những chi phí nào là chi phí sản xuất chung cố định, những chi phí nào là chi phí sản xuất chung biến đổi. Vì vậy, các nhà quản lý doanh nghiệp khó có thể đưa ra một ý kiến chỉ đạo cụ thể đối với việc giảm thiểu chi phí sản xuất chung: nên giảm 4 khoản phí nào, nội dung công việc nào để tổng chi phí sản xuất chung giảm nhưng vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó việc phân bổ chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình…, chỉ chọn một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho tất cả các yếu tố chi phí sản xuất chung và chi phí máy thi công (do chưa tổ chức hạch toán chi tiết các chi phí này theo yếu tố). Việc làm này sẽ làm cho giá thành của các công trình, hạng mục công trình được tập hợp không chính xác bởi vì chi phí sản xuất chung, chi phí máy thi công bao gồm nhiều nội dung (yếu tố) khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều hoạt động khác nhau và bản thân chúng lại bao gồm cả các yếu tố về biến phí và định phí cho nên nếu chỉ lấy một tiêu thức phân bổ sẽ không phản ánh chính xác chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình.
Về công tác tính giá thành hiện nay tại công ty vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việc tính giá thành chủ yếu là để đáp ứng yêu cầu kiểm tra từ bên ngoài như cơ quan cấp trên, các đối tác, cơ quan thuế… do đó chỉ đáp ứng yêu cầu trên góc độ kế toán tài chính. Còn đối với yêu cầu của kế toán quản trị trong doanh nghiệp xây lắp là phải cung cấp thông tin nội bộ thì việc tập hợp chi phí chưa nhanh và chưa chính xác. Nguyên nhân là do có những khoản phí hạch toán chưa đúng nội dung, phân bổ chưa chính xác và hiện tại chưa có một hệ thống báo cáo kế toán quản trị phù hợp với yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp.
Thứ hai, về việc xây dựng định mức và lập dự toán: Hiện nay, tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long, việc xây dựng, quản lý và sử dụng định mức, dự toán chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị doanh nghiệp, hệ thống định mức và dự toán chưa đầy đủ và đồng bộ. Việc vận dụng và xây dựng các định mức chi phí rất cần thiết đối với công ty trong điều kiện hiện nay để đưa ra những căn cứ làm cơ sở cho việc lập dự toán và làm tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã có sự so sánh giữa chi phí thực tế với các định mức chi phí, tuy nhiên việc tìm ra nguyên nhân chênh lệch và có các biện pháp cụ thể khắc phục nguyên nhân làm tăng chi phí so với định mức, dự toán còn hạn chế. Thực tế chưa có đơn vị nào trong công ty xây dựng được hệ thống định mức dự 5 toán chi phí tiêu chuẩn hoàn thiện nhất là về chi phí cho người lao động và đơn giá tiêu chuẩn.
Các định mức chi phí tại các đơn vị thuộc công ty đã được xây dựng khá cụ thể tuy nhiên mới chỉ cho những công việc phổ biến, còn những công việc mang tính đặc thù thì vẫn chưa có định mức và đơn giá cụ thể. Bên cạnh đó thì chủ yếu là các bộ phận chức năng như bộ phận kế hoạch, định mức, kỹ thuật tiến hành việc xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống định mức, dự toán thực tế của các đơn vị trực thuộc mà chưa có sự tham gia hiệu quả của bộ phận kế toán. Thứ ba, về việc xác định chi phí cho từng đối tượng chịu phí: Chi phí sản xuất tại công ty được xác định bằng phương pháp trực tiếp cho đối tượng chịu phí là từng công trình, hạng mục công trình bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung được xác định theo thực tế phát sinh vào từng khoản mục và phản ánh trên sổ cái các tài khoản tương ứng: 621, 622, 623, 627 rồi từ đó tính ra giá thành của từng công trình, hạng mục công trình chứ chưa xây dựng được các báo cáo theo hệ thống kế toán quản trị như: phiếu theo dõi chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình, báo cáo giá thành công trình… nên kết thúc quá trình này chỉ đem lại kết quả duy nhất là tính ra được giá thành của công trình, hạng mục công trình mà chưa đưa ra được các thông tin phục vụ cho mục đích của kế toán quản trị. Tuy đã đưa ra được một số báo cáo kế toán quản trị nói chung và báo cáo kế toán quản trị về chi phí sản xuất sản phẩm nói riêng nhưng nhìn chung chưa được thiết lập một cách đầy đủ để phục vụ cho yêu cầu quản lý và còn mang tính tổng hợp, liệt kê một cách đơn thuần, hầu như chỉ mang tính chất báo cáo kết quả cho kế toán tài chính chứ chưa thể hiện được vai trò cung cấp thông tin cho kế quán quản trị.
Thứ tư, về công tác phân tích biến động chi phí: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã tiến hành tổ chức phân tích biến động các khoản mục chi phí dựa trên cơ sở các định mức chi phí đã được xây dựng và các chi phí thực tế phát sinh. Tiếp theo so sánh giữa dự toán và chi phí thực tế để thấy được chi phí nào tăng, chi phí nào giảm. Đối với công ty, công tác này chưa phân tích được cụ thể các nguyên nhân gây biến động chi phí sản xuất để có các giải pháp ứng xử hiệu quả, chưa thực sự được quan tâm, chưa được đầu tư thực hiện một cách khoa học. 6 Từ đó, nhận thấy công tác kế toán của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã có những biểu hiện nhất định về kế toán quản trị nhưng mức độ chưa chuyên nghiệp.
Vì vậy, công ty cần phải hoàn thiện hơn nữa trước hết là những vấn đề còn tồn đọng trong công tác kế toán nói chung, sau đó đến các nội dung cơ bản trong kế toán quản trị nói riêng để kế toán quản trị phát huy tác dụng, vai trò của mình cho các cấp quản lý trong thời gian tới. Thứ năm, về việc thiết lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ đầy đủ, khoa học: Hiện nay tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long các báo cáo kế toán trong nội bộ các doanh nghiệp chưa thiết lập một cách đầy đủ để phục vụ cho yêu cầu quản lý. Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay Nhà nước chưa có những qui định về các biểu mẫu kế toán quản trị, vì vậy việc thiết kế các mẫu biểu kế toán quản trị hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu quản lý, khả năng nhận thức của mỗi doanh nghiệp cũng như phụ thuộc vào sự hướng dẫn của bản thân ngành xây dựng. Nhìn chung lại, có thể thấy trong công tác kế toán của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã có những biểu hiện nhất định về kế toán quản trị tuy nhiên mới chỉ ở mức độ manh nha, sơ khai ban đầu.
Vì vậy, để phục vụ cho các cấp quản lý trong thời gian tới, cần phải hoàn thiện hơn nữa trước hết về những sai sót còn tồn đọng trong công tác kế toán nói chung, sau đến các nội dung cơ bản về tổ chức kế toán quản trị. Thứ sáu, về tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán là một nội dung hết sức quan trọng liên quan đến việc phân công và sử dụng lao động, quan hệ giữa bộ phận kế toán và các bộ phận khác và tuỳ theo quy mô, địa bàn hoạt động mà công ty lựa chọn hình thức tổ chức kế toán vừa tập trung vừa phân tán. Nhìn chung bộ máy kế toán của doanh nghiệp xây dựng hiện nay gồm các bộ phận chính sau: Bộ phận kế toán tổng hợp, kế toán TSCĐ, nguồn vốn; kế toán ngân hàng; kế toán vật tư.và đặc biệt kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được tổ chức ở bộ phận kế toán tổng hợp. Bộ phận này sử dụng thông tin ở các bộ phận khác.