Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại theo thông tư 133/2016/TT-BTC. Chương 2: Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thương mại Hà Phát. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thương mại Hà Phát. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI THEO THÔNG TƯ 133/2016/TT-BTC 1.
Khái quát chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại theo thông tư 133/2016/TT-BTC 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh thương mại Thương mại là khâu trung gian nối liền sản xuất với tiêu dùng thông qua hai quá trình chủ yếu là mua hàng và bán hàng. Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Một số đặc điểm của hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại: − Đặc điểm hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của thương mại là lưu chuyển hàng hoá.
Lưu chuyển hàng hoá là sự di chuyển hàng hoá từ vị trí này đến vị trí khác bằng sức người hay phương tiện vận chuyển nhằm thực hiện các mục đích thương mại như mua – bán, lưu kho, dự trữ trong quá trình sản xuất – kinh doanh. Doanh nghiệp thương mại lưu chuyển hàng hóa theo hai phương thức là bán buôn và bán lẻ. − Đặc điểm về hàng hoá: hàng hoá trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về (hoặc hình thành từ các nguồn khác) với mục đích để bán. Hàng hoá trong kinh doanh thương mại được hình thành chủ yếu do mua ngoài.
Ngoài ra hàng hóa còn có thể được hình thành do nhận góp vốn liên doanh, do thu nhập liên doanh, do thu hồi nợ. − Đặc điểm về sự vận động của hàng hoá: sự vận động của hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại không giống nhau, tuỳ thuộc nguồn hàng hay ngành hàng. Do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng không giống nhau giữa các loại hàng. Sự cần thiết của việc hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, xã hội ngày một đổi mới và phát triển về mọi mặt đã làm cho mức độ cạnh tranh về kinh tế trở nên gay gắt, khốc liệt.
Đặc biệt, kể từ khi nước ta gia nhập WTO, với nền kinh tế mở cửa, hội nhập thì trong đó hệ thống kế toán cũng ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế. Công tác tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cũng không 1 Thư viện ĐH Thăng Long nằm ngoài quy luật tất yếu đó – là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng. Nhiệm vụ của một kế toán bán hàng và xác định kết quả lúc này được thể hiện rõ nét nhất thông qua việc cung cấp các con số “biết nói” giúp các nhà quản trị nắm bắt được tình hình tiêu thụ sản phẩm và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ để từ đó đưa ra các biện pháp kinh doanh đúng đắn, phù hợp. Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp còn xác định kết quả kinh doanh là căn cứ quan trọng để đơn vị quyết định tiêu thụ hàng hoá nữa hay không.
Do đó có thể nói chúng có mối quan hệ mật thiết. Kết quả bán hàng là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp còn bán hàng là phương tiện trực tiếp để đạt được mục đích đó. − Đối với doanh nghiệp, hoạt động bán hàng chính là điều kiện quyết định giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển, thông qua nghiệp vụ bán hàng, doanh nghiệp tạo được doanh thu, nhanh chóng thu hồi vốn kinh doanh đồng thời tạo ra lợi nhuận. − Đối với Nhà nước, các số liệu do kế toán cung cấp có thể nắm bắt được tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Từ đó thực hiện chức năng quản lý, kiểm soát vĩ mô nền kinh tế, thực hiện kiểm tra việc chấp hành về kinh tế tài chính và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước. − Đối với người tiêu dùng, bán hàng giúp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, thỏa mãn các nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng một cách nhanh chóng và dễ dàng. Kết quả bán hàng là chỉ tiêu tổng hợp để phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của doanh nghiệp như cơ cấu tiêu thụ, số vòng quay của vốn. Gắn liền với công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng, người kế toán cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng góp phần phục vụ đắc lực và có hiệu quả trong công tác bán hàng.
Do đó kế tóan bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần phải đƣợc tổ chức một cách khoa học hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Việc xác định kết quả bán hàng là cơ sở xác định chính xác và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đối với nhà nước thông qua việc nộp thuế, lệ phí vào ngân sách, xác định cơ cấu chi phí hợp lý và sử dụng hiệu quả lợi nhuận. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng 1. Bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp.
Đây là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ người bán sang cho người mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc được quyền thu tiền. 2 Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây: - Có sự trao đổi mua bán, thoả thuận giữa người mua và người bán, người bán đồng ý bán, người mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. - Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá: người bán mất quyền sở hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hoá và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng.
Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của mình. Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, hàng hoá bán được xem là yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hàng hoá đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, giá thành hạ thì tiêu thụ nhanh mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp một vị trí vững chắc trên thị trường. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Theo điều 56, Thông tư 133/2016/TT-BTC, doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trừ phần vốn góp thêm của các cổ đông.
Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Doanh thu bán hàng phát sinh từ các hoạt động giao dịch như bán sản phẩm hàng hoá cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Đối với sản phẩm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (doanh nghiệp bán hàng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ), doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT. Kế toán nghiệp vụ bán hàng phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các chứng từ theo đúng quy định của nhà nước.
Mọi trường hợp vi phạm đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đến doanh nghiệp. Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá. - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được các lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. 3 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Các khoản giảm trừ doanh thu Theo Thông tư 133/2016/TT-BTC, được ghi giảm trừ vào tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm, bao gồm: các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại trong kỳ báo cáo.
Các khoản giảm trừ doanh thu không bao gồm các khoản thuế gián thu, phí mà doanh nghiệp không được hưởng phải nộp NSNN do các khoản này về bản chất là các khoản thu hộ Nhà nước, không thuộc doanh thu. Chiết khấu thương mại: Là khoản chiết khấu mà doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc các cam kết mua, bán hàng. Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ được doanh nghiệp (bên bán) chấp thuận một cách đặc biệt trên giá đã thỏa thuận trong hóa đơn, vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng. Hàng bán bị trả lại: Là số sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại.
Hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng hàng bị trả lại, đính kèm hóa đơn (nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hóa đơn (nếu trả lại một phần). Và đính kèm theo chứng từ nhập lại kho của doanh nghiệp cho số hàng đó.