Chương 1: Tổng quan về đề tài: “Cải tiến dịch vụ logistics đường biển tại công ty TNHH CJ Korea Express Freight Việt Nam (chi nhánh tại Hà Nội)” Chương 2: Một số lý luận cơ bản về cung ứng dịch vụ logistics đường biển tại công ty logistics Chương 3: Phân tích thực trạng dịch vụ logistics đường biển tại Công ty TNHH CJ Korea Express Freight Việt Nam (Chi nhánh tại Hà Nội) Chương 4: Đề xuất cải tiến dịch vụ logistics đường biển tại công ty TNHH CJ Korea Express Freight Việt Nam (chi nhánh tại Hà Nội) 5 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY LOGISTICS 2. Dịch vụ logistics tại các doanh nghiệp logistics 2.1 Các dịch vụ logistics a) Khái niệm logistics Có rất nhiều khái niệm về logistics. Logistics trong từ điển tiếng anh Oxford là một lĩnh vực của khoa học quân sự liên quan đến việc mua sắm, duy trì và vận chuyển vật tư, người và phương tiện. Logsicstics cũng có thể được hiểu rằng: “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” (Ma Shuo, 1999).
Theo nghĩa rộng thì logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng. Theo nghĩa hẹp thì logistics được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và logistics là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể. Cũng có rất nhiều định nghĩa về logistics được ra đời, tuy nhiên theo quan điểm tiếp cận của đề tài, logistics có thể được khái quát một cách toàn diện như sau: ‘’Logistics được hiểu là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, bao gồm việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự di chuyển và dự trữ các sản phẩm, dịch vụ, và thông tin có liên quan một cách hiệu lực và hiệu quả từ các điểm khởi nguồn đến các điểm tiêu dùng theo yêu cầu đơn đặt hàng của khách hàng’’ (An Thị Thanh Nhàn, 2018). b) Khái niệm dịch vụ logistics Theo luật Thương mại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và Nghị định 140/2007 NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics có đưa ra khái niệm: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, trong đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Trong quy định này, các dịch vụ logistics được chia thành ba nhóm cơ bản: (1) Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp, dịch vụ vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ như tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan, xử lý lại hàng hóa bị trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. 6 (2) Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải, vận tải thuỷ nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường ống. (3) Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật, Dịch vụ bưu chính, Dịch vụ thương mại bán buôn, Dịch vụ thương mại bán lẻ, Dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. Như vậy có thể thấy, dịch vụ logistics đường biển nằm trong nhóm các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bên cạnh đó vẫn có các nhóm dịch vụ khác đi kèm để hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình cung cấp dịch vụ.
c) Vai trò dịch vụ logistics - Đối với nền kinh tế Dịch vụ logistics góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của quốc gia. Một nghiên cứu của trường Đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm từ 10% đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương. Điều đó cho thấy logistics đóng góp rất lớn cho ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa, nền sản xuất toàn cầu đang ngày càng bị chia sẻ, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đã làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của các quốc gia.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi chuỗi logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng. Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi dịch vụ logistics, theo đó, các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của con người. Dịch vụ logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với cách tiếp cận toàn cầu, dịch vụ logistics hiện mang một vai trò mới cho các nhà cung cấp nguyên liệu bao gồm sự tham gia sớm trong giai đoạn thiết kế và chịu trách nhiệm chung về luồng thông tin liên quan đến vật liệu (A. Agapiou và cộng sự, 2010). Tức là dịch vụ logistics cần được xuất hiện trong tất cả các giai đoạn của chuỗi cung ứng. Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp Dịch vụ logistics giúp giảm thiểu chi phí kinh doanh, tiết kiệm và giảm chi phi phí trong chuỗi cung ứng, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chi phí dịch vụ logistics bao gồm các chi phí giao thông vận tải, đóng gói, dự trữ, kiểm kê, hành chính và quản lý. Việc kiểm soát tất cả các chi phí này trong chuỗi dịch vụ logistics quốc tế sẽ có lợi ích rất lớn bởi vì giảm chi phí này nghĩa là giảm chi phí đầu vào của các hàng hóa, dịch vụ và giảm những 7 rủi ro trong hoạt động kinh tế giữa các quốc gia. Giúp các doanh nghiệp giành được ưu thế trong cạnh tranh.
Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú.
Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng. Doanh nghiệp dịch vụ logistics - Khái niệm doanh nghiệp logistics trong nền kinh tế Theo Luật Thương mại 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật. “Doanh nghiệp logistics hay các nhà cung cấp dịch vụ logistics (Vendor) là các tổ chức kinh doanh dịch vụ logistics, có khả năng cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp cho khách hàng, họ trực tiếp quản lý và kiểm soát hoạt động logistics do các khách hàng (client) thuê họ thực hiện (outsourcing)”. Thông thường các nhà cung cấp dịch vụ logistics nằm ngoài doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong các chuỗi cung ứng, nhưng trong một vài trường hợp đặc biệt họ cũng có thể là công ty con trong các tập đoàn kinh doanh lớn.
- Vai trò doanh nghiệp logistics trong nền kinh tế Các doanh nghiệp logistics tạo ra thị trường cung ứng dịch vụ logistics để đáp ứng yêu cầu cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và mang lại nhiều lợi ích cho những doanh nghiệp này: - Giúp các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng tập trung vào việc phát triển các năng lực cốt lõi, tăng tính chuyên môn hóa trong kinh doanh - Giảm chi phí đầu tư vào logistics và tài sản logistics, giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh và cung ứng hàng hóa - Hỗ trợ doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng cải thiện tính linh hoạt, tăng tốc độ cung ứng hàng hóa, nâng cao chất lượng cung ứng và mức dịch vụ khách hàng - Giúp mở rông nhanh chóng mạng lưới kinh doanh và thị trường, hỗ trợ quảng bá hình ảnh doanh nghiệp sản xuất kinh doanh - Các chức năng doanh nghiệp logistics 8 Các doanh nghiệp logistics có chức năng kết nối giữa các nhà cung cấp với khách hàng trong chuỗi cung ứng. Họ hỗ trợ cho các doanh nghiệp chuỗi cung ứng bằng cách đáp ứng nhu cầu về hoạt động giao nhận vận tải, kho bãi, phân phối hàng hóa, thủ tục hải quan… Các doanh nghiệp logistics thực hiện nghiên cứu nhằm nắm bắt nhu cầu thị trường; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm cung cấp cho doanh nghiệp các dịch vụ logistics có chất lượng tốt nhất. Ngoài ra, các doanh nghiệp logistics cũng chủ động tìm kiếm các yếu tố đầu vào ở nước ngoài có chi phí rẻ cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp nội địa. Nhờ vậy, dịch vụ logistics gắn kết nền kinh tế nội địa với nền kinh tế quốc tế, hỗ trợ hiệu quả quá trình mở cửa kinh tế của các quốc gia.