CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ VẬN TẢI TRONG LOGISITICS 1.1 Khái niệm và vai trò của dịch vụ vận tải trong logistics 1.1 Logistics là gì? “Logistics” là thuật ngữ chuyên ngành bắt nguồn từ thời đế chế Roman và Bzantily của Hy Lạp cổ đại dưới tên gọi “Logistikas”. Đây là chức danh được gán cho những chiến binh đảm nhận việc cung cấp, vận chuyển, phân phối lương thực, vũ khí, thuốc men,.tới doanh trại quân đội tại tiền tuyến. Công việc này đóng vai trò quyết định sự thắng hay thua của cuộc chiến khi cả hai bên đối địch luôn tìm cách đảm bảo tuyến tiếp tế cho quân mình và chặn đứng nguồn cung ứng của địch. Từ những năm 1950, khái niệm “Logistics” bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh doanh khi có sự gia tăng trong vận chuyển, cung ứng trên toàn cầu.
Điều này đòi hỏi phải có những người am hiểu, chuyên sâu trong lĩnh vực cung ứng trước xu hướng toàn cầu hóa. Có thể hiểu một cách đơn giản, logistics là một phần trong chuỗi cung ứng tổ hợp các công việc liên quan đến đóng gói, lưu trữ, vận chuyển và bảo quản cho tới khi hàng hóa được giao đến khách hàng cuối cùng. Năm 2001, Council of Supply Chain Management Professionals (Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ), đã đề xuất một khái niệm chính xác và toàn diện như sau: “Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Theo Giáo sư David Simchi-Levi thì “Hệ thống logistics (Logistics Network) là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng 1 số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về mức độ phục vụ”.TS Đoàn Thị Hồng Vân cũng đề cập khái niệm này trong cuốn Logisitcs – Những vấn đề cơ bản như sau: “Logistics là quá trình tối ưu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua “Luật thương mại 2005”, trong đó có quy định cụ thể khái niệm dịch vụ logistics tại điều 233, mục 4 chương VI quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Theo tác giả Tào Thị Hải viết trong nghiên cứu “Phát triển đô thị cảng Đà Nẵng với dịch vụ Logistics trong thập niên 2020 – 2030” có đề cập chi tiết khái niệm: “Logistics là một trong những ngành “dịch vụ hậu cần”, được hiểu đơn giản nhất là quá trình chuẩn bị hàng hóa, sắp xếp, đóng gói, kẻ kí mã hiệu và bảo quản hàng hóa, vận chuyển hàng hóa ra cảng và làm thủ tục thông quan xuất khẩu hoặc nhập khẩu cho hàng. Hoặc có thể phân loại các khái niệm về logisitcs thành hai hướng tiếp cận phổ biến hiện này là: (*)Nhóm định nghĩa hẹp và (**)Nhóm định nghĩa rộng Nhóm định nghĩa hẹp cho rằng logistics chủ yếu dừng lại ở các hoạt động liên quan đến hàng hóa. Cụ thể là các yếu tố mang tính bổ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.
Nhóm định nghĩa rộng thì gắn logistics vào hai giai đoạn của một chuỗi cung ứng tiêu chuẩn bao gồm (1) đầu vào (thượng nguồn) và (2) đầu ra (hạ lưu). Việc phân 2 Thư viện ĐH Thăng Long bổ này giúp phân định rõ ràng vai trò của từng nhà cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực logistics như: dịch vụ vận tải, dịch vụ khai báo hải quan, dịch vụ kho bãi,… Cho thấy, tầm quan trọng của logistics đối với mỗi trường phái là khác nhau nên các tác giả, tổ chức đã đưa ra các định nghĩa khác nhau và thay đổi theo thời gian. Nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, thế giới trở lên “phẳng” hơn, khái niệm “Logistics” đã được định nghĩa mở rộng hơn trên tinh thần kế thừa, kiện toàn và hoàn chỉnh hơn từ các khái niệm trước. Và cả giới chính khách và học giả nghiên cứu của Việt Nam đều nhất quán giữ nguyên tên gọi “Logistics” mà không thay thế hay dịch sang từ ngữ thuần Việt khác.
Trước đó, khi mới du nhập vào Việt Nam, Logisitcs được định nghĩa là “Hậu cần” nhưng khái niệm này nhanh chóng không phản ánh, bao hàm đầy đủ bản chất hoạt động logistics. Trong bài khóa luận này, logistics được hiểu theo Nghị định số 163/2017/NĐ- CP về kinh doanh dịch vụ logistics: “Dịch vụ logistics được cung cấp bao gồm: Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay; Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải; Dịch vụ chuyển phát; Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan); Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải; Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng; Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển; Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa; Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt; Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ; Dịch vụ vận tải hàng không; Dịch vụ vận tải đa phương thức; Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật; Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác; và Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh 3 dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại.2 Dịch vụ vận tải là gì? Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về vận tải được đưa ra. Dưới các góc nhìn khác nhau từ những trường phái, tác giả. Có thể, kể đến như một vài định nghĩa dưới đây: (1) Theo từ điển Tiếng Việt năm 2006: “Vận tải là việc dùng phương tiện chuyên chở để chuyên chở sinh vật hay đồ vật trên một quãng đường tương đối dài”.
Đây là một định nghĩa còn tương đối sơ khai (GS. Hoàng Phê – Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng). (2) Theo Liên Hiệp Quốc (1995): “Vận tải là một hoạt động sản xuất vật chất, thực hiện việc chuyên chở nguyên vật liệu, hàng hóa, con người,.giữa hai điểm vận tải, bằng phương tiện chuyên chở” trong cuốn Sổ tay vận tải đa phương thức – Multimodal Transport Handbook, 1995. Cũng khẳng định vận tải là một quá trình chuyên chở làm di chuyển đối tượng vận tải, nhưng đưa ra bản chất vận tải là một hoạt động sản xuất vật chất.
(3) Theo tác giả Nguyễn Hồng Đàm (2005) cho rằng: “Với ý nghĩa rộng, vận tải là một quy trình kỹ thuật của bất kì sự dịch chuyển vị trí nào của vật phẩm và con người. Còn với ý nghĩa kinh tế, vận tải chỉ bao gồm sự di chuyển của vật phẩm và con người thỏa mãn đồng thời 2 tính chất: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập. Khẳng định 2 tính chất của vận tải. Dưới góc nhìn từ nghiên cứu logisitcs, vận tải được đề cập như trong chương 7, bài giảng môn Quản lý Logistics của Trường Đại học Thăng Long, có bàn luận về khái niệm vận tải: - Vận tải là sự chuyển động thực tế của hàng hóa và con người giữa hai điểm; - Là mấu chốt cho thành công của bất kỳ chuỗi cung ứng nào vì nó mang hàng hóa (theo nghĩa đen) khi họ di chuyển dọc theo chuỗi cung ứng; 4 Thư viện ĐH Thăng Long - Là hoạt động có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển của con người hoặc hàng hóa từ nới này đến nơi khác; Và đưa ra định nghĩa vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí hàng hóa, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Trong các định nghĩa về logistics được trình bày trong mục 1.1 của bài khóa luận, có thể nhận thấy vận tải là một trong những hoạt động của logistics. Cụ thể trong Nghị định số 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logisitcs đã liệt kê tương đối đầy đủ các loại hình kinh doanh dịch vụ logistics hiện nay tại Việt Nam, trong đó lĩnh vực vận tải được đề cập đến gồm: dịch vụ vận tải tải; dịch vụ vận tải đường thủy nội địa; dịch vụ vận tải đường sắt; dịch vụ vận tải đường bộ; dịch vụ vận tải đường hàng không và dịch vụ vận tải đa phương thức. Ngoài ra, còn các dịch vụ vận tải hỗ trợ khác. Như vậy, dịch vụ vận tải được hiểu đơn giản là di chuyển hàng hóa, con người từ vị trí này đến vị trị khác; từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng các phương tiện chuyên chở khác nhau như xe tải, xe khách, máy bay, tàu thuyền,…trên các loại hình giao thông khác nhau như đường bộ, đường biển, đường sắt,… 1.2 Vai trò của dịch vụ vận tải trong logistics Cốt lõi của hoạt động logistics là tối ưu, là hiệu quả trong xác định về vị trí, thời gian, vận chuyển và dự trữ nhằm cung cấp đúng sản phẩm, đúng thời điểm, đúng chất lượng,.tới khách hàng với chi phí phù hợp nhất.
Theo đó, vận tải vừa là một hoạt động không thể thiếu trong việc giúp di chuyển hàng hóa giữa các bộ phận khác nhau trong chuỗi cung ứng; vừa là yếu tố ảnh hưởng trong đánh giá hiệu quả của hoạt động logistics trong một chuỗi.