Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức/ doanh nghiệp SVTH: Lê Thị Thúy Hường 5 Lớp: K53 QTIL Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Iguyễn Quốc Khánh Chương 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại VN PT Thừa Thiên Huế Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại VN PT Thừa Thiên Huế Phần III: Kết luận và kiến nghị PHẦ II ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ CỦA CÔ G TÁC QUẢ TRN GUỒ HÂ LỰC TRO G DOA H GHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm nhân lực Bất kì một tổ chức hay doanh nghiệp nào cũng sẽ được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó.
N hân lực chính là tổng thể các tiềm năng mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trong một thời kì nhất định (5 năm, 10 năm,….) phù hợp với điều kiện phát triển. (Phạm Thành Ighị - Vũ Hoàng Igân, 2004) N hân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể. Trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách….
của từng con người. (Iguyễn Tài Phúc – Bùi Văn Chiêm, 2014) N hư vậy có thể hiểu nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội nghĩa là tất cả thành viên trong doanh nghiệp phải sử dụng kiến thức lẫn kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Trong đó: Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, mức SVTH: Lê Thị Thúy Hường 6 Lớp: K53 QTIL Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Iguyễn Quốc Khánh sống, chế độ ăn uống, chế độ nghỉ ngơi,…và thể lực còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, thời gian làm việc Trí lực chỉ sự suy nghĩ, hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, khả năng sáng tạo, lòng tin… của con người.
Khái niệm nguồn nhân lực N guồn nhân lực có thể nói là đầu vào hết sức quan trọng đối với các tổ chức nói riêng và một đất nước nói chung. Khái niệm nguồn nhân lực cũng được hiểu theo nhiều khía cạnh: Theo David Begg - N guồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được và được đánh giá cao vì có khả năng đem lại thu nhập cho tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Phạm Minh Hạc (2001) - N guồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một đất nước hay địa phương sẵn sàng tham gia một công việc.
N ói tóm lại, nguồn nhân lực có thể được hiểu là nguồn lực của con người, được hình thành trên cơ sở cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục đích nhất định. N ói tới nguồn nhân lực con người thì phải nói tới trí lực, thể lực, phNm chất, nhân cách, tác phong làm việc nhóm và hoà đồng với tập thể để phát huy sức mạnh tập thể. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Hiện nay, có rất nhiều khái niệm liên quan đến quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nhân lực là bất kỳ hoạt động nào liên quan đến quản lý con người, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tất cả các nhân viên với doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực là việc thu hút, tuyển mộ, sử dụng, động viên và cung cấp các yếu tố, điều kiện cần thiết và phù hợp cả về số lượng và chất lượng cho tài nguyên nhân sự của doanh nghiệp.
Theo giáo sư người Mỹ Dinock - Quản trị nguồn nhân lực là toàn bộ những biện pháp, thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra có liên quan đến công việc nào đó. Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. SVTH: Lê Thị Thúy Hường 7 Lớp: K53 QTIL Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Iguyễn Quốc Khánh N hư vậy có thể nói Quản trị nguồn nhân lực là toàn bộ các việc liên quan đến con người trong doanh nghiệp như hoạch định cung cầu, tuyển mộ và tuyển chọn, bố trí sử dụng, đào tạo và phát triển, đãi ngộ và xử lý các mối quan hệ về lao động.
Bên cạnh đó, QTN N L còn phải tạo ra hệ thống hợp tác làm việc qua phân công hợp lý, phát huy tối đa năng lực của mỗi người nhằm đảm bảo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, đạt tới mục tiêu trước mắt nói riêng cũng như mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp nói chung. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Bất kì một doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì N N L vẫn luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng, việc quản trị tốt N N L sẽ có rất nhiều vai trò đối với doanh nghiệp phải kể đến: Thứ nhất, về mặt kinh tế, QTN N L giúp cho các doanh nghiệp khai thác các khả năng, tiềm năng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực. Thứ hai, về mặt xã hội, QTN N L thể hiện quyền lợi của người lao động, đề cao giá trị giá trị và vị thế của người lao động, chú trọng giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa các tổ chức doanh nghiệp và người lao động. Thứ ba, QTN N L giúp xây dựng và định hướng cũng như giám sát bộ máy nhân sự sao cho hoạt động đúng với mục tiêu chiến lược đã được vạch ra trong tổ chức.
Bên cạnh đó, việc quản trị hiệu quả N N L còn tác động đến cả môi trường làm việc của nhân viên, giúp tăng năng suất lao động, tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hơn hết, QTN N L giúp các nhà quản trị tìm ra tiếng nói chung với nhân viên, hiểu nhu cầu và đánh giá nhân viên một cách chính xác. Từ đó sử dụng nhân viên hiệu quả, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức, góp phần nâng cao chất lượng và công tác trong doanh nghiệp. Tóm lại, QTN N L đóng vai trò chủ chốt trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển bền vững trong thời đại hiện nay nói riêng.
Mục tiêu của công tác quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực là tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến con người trong doanh nghiệp và có 3 mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất, các doanh nghiệp cần phải đáp ứng được nhu cầu cũng như tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa năng lực của bản thân, khuyến khích và động viên tại nơi làm việc. SVTH: Lê Thị Thúy Hường 8 Lớp: K53 QTIL Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Iguyễn Quốc Khánh Thứ hai, thu hút, phát triển, duy trì và sử dụng một nguồn lực có chất lượng nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. Thứ ba, tạo công ăn việc làm, động viên và giáo dục người lao động phát triển phù hợp với sự tiến bộ của khoa học xã hội, làm trong sạch môi trường xã hội.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị nguồn nhân lực Có rất nhiều yếu tố gây ảnh hưởng tới công tác quản trị nguồn nhân lực, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố là khác nhau và tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi doanh nghiệp mà chia thành 2 nhóm chính: 1. Ihóm các yếu tố tác động từ bên ngoài Bao gồm các yếu tố như : Tình hình kinh tế, dân số/ lực lượng lao động, chính sách của nhà nước, văn hoá – xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học – kỹ thuật,…. a) Tình hình kinh tế Đây là nhân tố đầu tiên phải kể đến vì nó ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp. N hư đã biết, chu kỳ kinh tế thường có 2 sắc thái rõ ràng: Thứ nhất, trong giai đoạn suy thoái hay nền kinh tế bất ổn có dấu hiệu đi xuống, các doanh nghiệp một mặt vẫn phải duy trì lực lượng lao động mặt khác sẽ có xu hướng giảm chi phí lao động.
Bên cạnh đó việc đưa ra các chính sách phù hợp như giảm số giờ làm việc, cho nhân viên tạm nghỉ hoặc cho nghỉ việc… sẽ giúp doanh nghiệp ổn định được một thời gian sau sự biến động của thị trường. Thứ hai, trong giai đoạn kinh tế phát triển hay nền kinh tế ổn định, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh vì vậy nhu cầu sử dụng lực lượng lao động rất lớn. Mặt khác, các doanh nghiệp đưa ra các chính sách đào tạo và phát triển nhân tài, tăng lương để thu hút nhân tài, cải thiện điều kiện làm việc để học có thể gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. b) Dân số/ lực lượng lao động Một quốc gia có nguồn lao động dồi dào là quốc gia có cơ cấu dân số trẻ nằm trong độ tuổi lao động và họ luôn sẵn sàng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Việt N am là một trong các quốc gia đang phát triển sở hữu nguồn lao động dồi dào với cơ cấu dân số trẻ nên nhu cầu tìm kiếm công việc hàng năm luôn tăng. Đây là một vấn đề được cả nước rất quan tâm. c) Chính sách của nhà nước SVTH: Lê Thị Thúy Hường 9 Lớp: K53 QTIL Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Iguyễn Quốc Khánh Hiện nay, các chính sách của nhà nước hay còn gọi là hệ thống pháp lý bao gồm các chính sách, các văn bản pháp luật liên quan đến lợi ích của người lao động, giúp làm hài hoà mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, làm tiền đề cho các doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuNn pháp lý khi hình thành và phát triển.