CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VE CONG TAC QUAN LÝ THU BHXH 1. Khái quát về BHXH 1. Khai niệm Nhu cầu của con người là luôn vận động và phát triển theo chiều hướng ngày càng được nâng lên. Khi xã hội phát triển, con người có xu hướng mong muốn đảm bảo an toàn cho cuộc sống của mình trước những rủi ro.
Có thể nói nhu cầu an toàn của loài người là nhu cầu vĩnh cửu. Xuất phát từ nhu cầu thiết thực này, bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Trải qua một quá trình phát dài, hiện nay BHXH đã trở thành một chính sách lớn của Dang và nhà nước ta, được quy định rõ trong Hiến pháp, nhằm góp phần ổn định chính sách cho NLD và gia đình của họ khi không may gặp rủi ro. Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: góc độ tài chính, pháp luật,.Vì vậy, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH.
Tuy xuất phát ở nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau, nhưng các khái niệm, định nghĩa về BHXH đều xem xét BHXH là một hình thức bảo hiểm mang tính xã hội, hoạt động phi lợi nhuận, có sự hỗ trợ của nhà nước, chủ yếu nhằm mục dich bảo vệ thu nhập cho NLD và an toàn xã hội. Một trong những khái niệm về BHXH đáng chú ý hơn cả và được xem là phù hợp với hệ thống BHXH ở nước ta là khái niệm BHXH theo góc độ pháp luật được quy định cụ thể trong Điều 3 Luật BHXH năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “BHXH là sự bảo đảm, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mắt thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLD - BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Như vậy, phát sinh từ những nhu cầu của NLD và an toàn xã hội, BHXH đã trở thành phương thức dự phòng để khắc phục hậu quả của các rủi ro xã hội, đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, đồng thời tạo động lực hữu hiệu dé phát triển kinh tế. Vai rò của BHXH Trong điều kiện phát triền nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiện nay, BHXH càng trở nên quan trọng trong việc góp phần đảm bảo công tác xã hội và phát triển xã hội một cách bền vững.
Nó giữ vai trò quan trọng không chỉ đối với NLD mà còn có ý nghĩa to lớn đối với tổ chức SDLD và toàn xã hội, cụ thé: 1. Đối với người lao động BHXH được hình thành và phát triển chủ yếu là nhằm đảm bảo chính sách cho NLD và người thân của họ khi gặp phải những khó khăn, làm giảm hoặc mat một phan thu nhập. Do đó, BHXH có vai trò vô cùng quan trọng đối với đối tượng này. BHXH không chi là quyền lợi cho NLD mà nó còn thé hiện trách nhiệm của NLD đối với xã hội.
Một mặt, BHXH tạo điều kiện cho NLD nhận được sự tương trợ của cộng đồng, xã hội khi ốm dau, thai sản,. Mặt khác, cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của các thành viên khác trong cộng đồng, khắc phục hậu quả và khống chế rủi ro trong lao động ở mức độ cần thiết. Khi tham gia vào hệ thống BHXH, việc chi dùng cá nhân của NLD được nâng cao hiệu quả cho họ tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ, đều đặn hàng tháng để chi dùng khi già cả, mất sức lao động. Day không chi là nguồn hỗ trợ về vật chat mà còn là nguồn động viên tỉnh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, giúp họ ôn định về mặt tâm lý, ổn định chính sách cho bản thân và gia đình khi gặp bất trắc.
Khi đã có một chỗ dựa vững chắc, NLĐ sẽ cảm giác yên tâm hơn trong cuộc sống lao động, làm việc hết sức minh dé nâng cao năng suất lao động. Đối với người sử dụng lao động BHXH ngoài việc mang lại các lợi ích thiết thực cho NLĐ, nó còn giúp cho các tổ chức SDLĐ ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua việc phân phối các chi phí cho NLD một cách hợp lý. Bởi vì, nếu không có BHXH, người SDLD sẽ trả tiền BHXH cùng tiền lương hàng tháng cho NLD dé họ tự quản lý và sử dụng nguồn tiền vào các mục đích khác nhau, không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như mong đợi.
Đặc biệt, khi NLĐ không may bị ốm đau, tai nạn lao động. không có khoản tiền tiết kiệm, dự phòng dé chi dùng cuộc sống của họ bị ảnh hưởng dẫn đến chất lượng lao động cũng bị ảnh hưởng theo. Vì vậy, qua việc phân phối chi phí cho NLĐ hợp lý, BHXH góp phần làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định, hoạt động liên tục và hiệu quả, tăng cường mối quan hệ bền chắc giữa các thành viên trong quan hệ lao động. Mặt khác, BHXH tạo điều kiện để người SDLĐ có trách nhiệm với NLĐ trong suốt cuộc đời NLĐ cho những đóng góp của họ đối với doanh nghiệp, làm cho quan hệ lao động giữa chủ SDLĐ với NLD có tính nhân văn sâu sắc hơn.
Bên cạnh đó, BHXH còn giúp đơn vị SDLĐ ổn định nguồn chỉ ngay cả khi có rủi ro không đáng có xảy ra. Nhờ đó mà các khoản chi phí được chủ động hạch toán, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào hoàn cảnh khách quan. Tuy nhiên, chính vì những lợi ích mà BHXH mang lại cho đơn vị SDLĐ không phải là những lợi ích trực tiếp nên nhiều doanh nghiệp, đơn vị SDLD chưa thực sự coi trọng và có nhận thức đúng đắn về vai trò của BHXH. Đối với nên kinh tế xã hội BHXH là một chính sách xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng.
Bởi đúng như tên gọi đã phản ánh, BHXH không chỉ có vai trò quan trọng đối với NLD và người SDLD mà nó còn có những vai trò xã hội to lớn như: Tạo ra một cơ chế chia sẻ rõ ràng, để nâng cao tính cộng đồng xã hội, củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội. Tuy không nhằm mục dich sinh lợi, kinh doanh nhưng BHXH được xem như một công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dự phòng hiệu quả nhất cho việc giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua hoạt động BHXH, những rủi ro trong đời sống NLD được dan trai theo nhiều chiều, tạo ra khả năng giải quyết an toàn nhất, với chỉ phí thấp nhất. BHXH vốn là trụ cột chính trong bốn trụ cột chính của hệ thống ASXH của nhà nước ta hiện nay.
Căn cứ vào mức độ bao phủ của chính sách BHXH mà các nhà hoạch định chính sách xã hội sẽ thiết kế những mạng lưới an sinh khác nhau. Do đó, phát triển BHXH chính là cơ sở để phát triển các bộ phận khác nhau của hệ thống an sinh xã hội. Có thể nói nhìn vào hệ thống BHXH của mỗi quốc gia có thể biết được trình độ phát triển của quốc gia đó. Nếu kinh tế chậm phát triển, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém thì hệ thống BHXH cũng chậm phát triển ở mức tương đối.
Bởi vì, chỉ khi kinh tế phát triển, những nhu cau cần thiết nhất được đảm bảo thì người dân mới nghĩ đến nhu cầu cao hơn. Mặt khác, thông qua hệ thống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của nhà nước, trình độ văn hóa của cộng đồng được nâng cao. Ngoài ra, hệ thống BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế phát triển. Do quỹ BHXH có nguồn tiền nhàn rỗi được đem đi đầu tư đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ, mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thé trong quan hệ BHXH.
Như vậy, vai trò của BHXH là rất lớn đối với NLĐ, người SDLĐ và toàn xã hội. Đối với Việt Nam hiện nay, với chức năng của mình, BHXH đang là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Quỹ BHXH Bắt kì một hoạt động kinh tế - xã hội nào muốn thực hiện được đều phải có một nguồn tài chính riêng. Đối với hoạt động BHXH, quỹ BHXH được hiểu là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, được tồn tích dần từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác và được Nhà nước bảo hộ; được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho NLD theo quy định của pháp luật BHXH.
Theo đó, quỹ BHXH bắt buộc ở Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau: - Người SDLD đóng theo quy định hiện hành. - NLD đóng theo quy định hiện hành. - Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH. - H6 trợ của Nhà nước.
- Các nguồn thu hợp pháp khác. Từ các nguồn thu này, quỹ BHXH sẽ được sử dụng vào các mục đích cụ thé như: - Chi trả các khoản trợ cấp BHXH cho NLD theo quy định của Luật BHXH. - Chi phí quản lý quỹ BHXH bao gồm: chi phí hành chính, chi lương, khấu hao tài sản cố định và các khoản chỉ sự nghiệp khác theo quy định hiện hành - Chi khen thưởng người SDLĐ thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa TNLD — BNN, chi dự phòng. theo quy định của Nhà nước.
- Dau tu dé bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định của Luật BHXH. Hiện nay quỹ BHXH bắt buộc được chia thành ba thành phần đó là: + Quỹ ốm đau, thai sản. + Quỹ hưu trí, tử tuất. + Quỹ TNLD - BNN.
Quỹ BHXH bắt buộc ở nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, tạo lập một quỹ tiền tệ chung. Do đó, vấn đề quản lý quỹ sao cho đảm bảo quyền lợi của tất cả các thành viên tham gia đóng góp là rất quan trọng. Đặc biệt, công tác quản lý thu BHXH hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập cần phải giải quyết, có biện pháp xử lý triệt để. Vì vậy, không chỉ riêng ngành BHXH mà các ban ngành liên quan cân có sự quam tâm đúng mức hơn với những thực trạng này.
Khái niệm và vai trò của công tác quản lý thu BHXH 1.