Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trụ cột then chốt trong hệ thống an sinh xã hội, giữ vai trò bảo đảm, thay thế và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp các rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc qua đời. Để hình thành và duy trì nguồn quỹ chi trả độc lập, hoạt động quản lý thu BHXH giữ vị trí quyết định hàng đầu đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của toàn bộ hệ thống. Việc tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời không chỉ ngăn ngừa thất thoát quỹ mà còn trực tiếp bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và bảo đảm công bằng xã hội.

Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh là địa bàn có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tương đối nhanh với diện tích 20.904 ha và dân số 125.260 người. Năm 2018, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tích cực với nông nghiệp chiếm 20,74%, công nghiệp - xây dựng chiếm 37,5%, thương mại - dịch vụ chiếm 41,8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 39,2 triệu đồng/năm và tổng thu ngân sách đạt trên 736 tỷ đồng. Sự phát triển của các khu công nghiệp như Thái Yên, làng Mộc cùng các tuyến giao thông trọng điểm đã thu hút nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển này là những thách thức trong công tác quản lý thu BHXH bắt buộc: tình trạng trốn đóng, nợ đọng kéo dài, kê khai tiền lương đối phó và trốn tránh nghĩa vụ tham gia cho người lao động vẫn diễn biến phức tạp.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Thị Tú (sinh viên lớp Bảo hiểm xã hội 57, Khoa Bảo hiểm, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Định đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: "Thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (2015 - 2018)".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội và nội dung quản lý thu BHXH bắt buộc.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đức Thọ giai đoạn 2015 - 2018 thông qua các chỉ tiêu về đối tượng tham gia, quỹ tiền lương, kết quả thu, tình hình nợ đọng và quy trình tổ chức thu.
  3. Nhận diện các thành tựu, hạn chế cùng nguyên nhân tồn tại, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại địa bàn huyện Đức Thọ trong thời gian tới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc.
  • Phạm vi không gian: Cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018 (số liệu thực thu so sánh 2016 - 2018, hoàn thành khóa luận năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên các quan điểm về an sinh xã hội và hệ thống văn bản pháp lý hiện hành của Nhà nước:

  • Khái niệm và bản chất BHXH: Căn cứ theo Điều 3 Luật BHXH năm 2014, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Quỹ BHXH bắt buộc là quỹ tài chính độc lập, tập trung, hình thành từ đóng góp của người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ), tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư và hỗ trợ của Nhà nước. Quỹ được chia thành 3 quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản; Quỹ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (TNLĐ - BNN); Quỹ hưu trí và tử tuất.
  • Quản lý thu BHXH: Là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý bằng các biện pháp hành chính, kinh tế và pháp luật nhằm đạt mục tiêu thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng, không để thất thu và đúng tiến độ thời gian.
  • Cơ sở pháp lý: Luật BHXH năm 2014 (quy định đối tượng tham gia tại Điều 2, tiền lương đóng tại Điều 94, quyền khởi kiện tại Điều 14); Nghị định số 25/CP và Nghị định số 26/CP ngày 23/5/1993; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương; Điều 216 Bộ luật Hình sự về tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN; cùng hệ thống quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu quản lý thu của BHXH Việt Nam (Mẫu số 13-TBH về kế hoạch thu, Mẫu số 07-TBH về sổ chi tiết thu, Mẫu số 08-TBH về thông báo kết quả đóng).
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Khóa luận vận dụng lý thuyết tháp nhu cầu Maslow để phân tích mức độ quan tâm đến bảo hiểm xã hội khi đời sống kinh tế phát triển, kết hợp xem xét các nhân tố về trình độ dân trí, điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách tiền lương và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và thống kê mô tả số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu báo cáo định kỳ, hồ sơ quản lý thu, báo cáo tài chính và báo cáo nợ đọng tại cơ quan BHXH huyện Đức Thọ giai đoạn 2015 - 2018.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh: Phân tích biến động tăng giảm cơ học theo chuỗi thời gian đối với số lượng đơn vị, số lao động tham gia, tổng quỹ lương, mức lương căn cứ đóng, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu và quy mô nợ đọng qua từng năm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về công tác quản lý thu BHXH

Chương này tập trung trình bày các vấn đề lý luận mang tính nền tảng về BHXH và nghiệp vụ quản lý thu:

  • Bản chất và vai trò của BHXH: Phân tích vai trò đối với người lao động (tạo mạng lưới an toàn, ổn định tâm lý), đối với người sử dụng lao động (chủ động hạch toán chi phí rủi ro, ổn định quan hệ lao động) và đối với nền kinh tế - xã hội (công cụ phân phối lại, huy động nguồn vốn đầu tư nhàn rỗi).
  • Cơ chế thu và tỷ lệ đóng góp: Theo Luật BHXH 2014, mức đóng BHXH bắt buộc hàng tháng bằng 26% tổng quỹ tiền lương của NLĐ, trong đó NSDLĐ đóng 18% (3% vào quỹ ốm đau thai sản - giữ lại 2% để chi trả kịp thời và quyết toán hàng quý; 1% vào quỹ TNLĐ - BNN; 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất) và NLĐ đóng 8% vào quỹ hưu trí, tử tuất.
  • Nội dung công tác quản lý thu: Bao gồm quản lý đối tượng tham gia; quản lý mức thu và tiền lương làm căn cứ đóng; tổ chức phân cấp thu (phân định rõ thẩm quyền quản lý giữa BHXH cấp tỉnh và BHXH cấp huyện); quy trình lập và xét duyệt kế hoạch thu hàng năm (Mẫu 13-TBH gửi trước ngày 05/11 cấp huyện và 15/11 cấp tỉnh); quản lý tiền thu qua tài khoản chuyên thu; công tác thông tin báo cáo (Mẫu 07-TBH, 08-TBH); quản lý hồ sơ tài liệu và ứng dụng công nghệ thông tin; quản lý nợ đọng (quy trình đôn đốc 15 ngày/lần, thanh tra chuyên ngành sau 30 ngày và phối hợp khởi kiện hoặc đề nghị khởi tố sau 6 tháng); công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.
  • Các nhân tố tác động: Trình độ dân trí, điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách tiền lương tối thiểu và năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý.

Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Bảo hiểm xã hội huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh (2015 - 2018)

Chương II đi sâu vào phân tích cơ cấu tổ chức và thực tế triển khai các mặt nghiệp vụ thu tại BHXH huyện Đức Thọ:

  • Cơ cấu tổ chức cơ quan: BHXH huyện Đức Thọ thành lập theo Quyết định số 14a QD/TC ngày 06/01/2009. Bộ máy gồm Ban Giám đốc và 6 bộ phận chuyên môn (Bộ phận thu, Kế toán, Chế độ chính sách, Cấp sổ thẻ, Giám định BHYT, Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả) với tổng số 12 cán bộ công chức (10 người có trình độ đại học, 2 người cao đẳng). Riêng công tác thu được phân công cho 2 cán bộ chuyên quản phụ trách theo từng nhóm đơn vị cụ thể. Cơ sở vật chất gồm tòa nhà 2 tầng, 6 máy vi tính và 3 máy in kết nối mạng Lan/Internet với BHXH tỉnh.
  • Quy trình quản lý tiền thu: Cơ quan không thu tiền mặt trực tiếp mà quản lý qua tài khoản chuyên thu tại Kho bạc Nhà nước huyện Đức Thọ (đối với khối hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, xã phường) và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Đức Thọ (đối với khối doanh nghiệp). Hàng quý thực hiện quyết toán số tiền 2% giữ lại tại đơn vị.
  • Số liệu quản lý đối tượng đơn vị sử dụng lao động: Giai đoạn 2015 - 2018, số đơn vị tham gia tăng từ 155 lên 272 đơn vị.
STT Loại hình đơn vị 2015 (Phải / Đã TG) 2016 (Phải / Đã TG) 2017 (Phải / Đã TG) 2018 (Phải / Đã TG)
1 Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) 9 / 9 9 / 9 9 / 9 9 / 9
2 Doanh nghiệp có vốn ĐTNN 10 / 10 32 / 32 45 / 45 58 / 58
3 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) 107 / 68 130 / 78 163 / 102 189 / 128
4 Hành chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể 34 / 34 35 / 35 37 / 37 40 / 40
5 Đơn vị ngoài công lập 70 / 13 70 / 13 72 / 14 72 / 14
6 Hợp tác xã, Quỹ tín dụng 10 / 10 10 / 10 10 / 10 11 / 11
7 Xã, phường, thị trấn 5 / 5 5 / 5 5 / 5 5 / 5
8 Tổ chức khác và cá nhân 156 / 6 178 / 6 203 / 7 203 / 7
Tổng Toàn huyện 401 / 155 469 / 188 544 / 229 587 / 272

Tỷ lệ đơn vị tham gia trên tổng số đơn vị thuộc diện phải tham gia tăng từ 38,65% (năm 2015) lên 40,08% (2016), 42,1% (2017) và đạt 46,33% (năm 2018). Khối DNNQD chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số đơn vị đã tham gia (47,05% năm 2018), tiếp theo là khối DN có vốn ĐTNN (21,32% năm 2018).

  • Số liệu quản lý người lao động: Tổng số lao động tham gia BHXH bắt buộc tăng từ 5.835 người (năm 2015) lên 6.091 người (2016), 6.515 người (2017) và đạt 6.921 người (năm 2018 - tăng 18,61% so với 2015). Khối DNNQD chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất (dao động từ 69,28% đến 74,84%). Tuy nhiên, tỷ lệ lao động đã tham gia so với diện phải tham gia chỉ đạt khoảng 50%, và tính trên tổng dân số trong độ tuổi lao động của huyện năm 2018 chỉ đạt 33,68%.
  • Quản lý quỹ lương làm căn cứ đóng: Tổng quỹ lương căn cứ đóng tăng từ 180.083 triệu đồng (năm 2015) lên mức tăng trưởng 22,99% vào năm 2018 do tăng số lao động và sự điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng.
  • Kết quả thực hiện kế hoạch thu:
Chỉ tiêu Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Số đơn vị tham gia (Đơn vị) 188 229 272
Số lao động tham gia (Người) 6.091 6.515 6.921
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch (%) 103,7% 104,6% 103,5%

Năm 2018, tổng số tiền phải thu là 58.692 đồng (đơn vị ghi nhận), số đã thu đạt 56.164 đồng, hoàn thành 103,5% kế hoạch BHXH tỉnh giao.

  • Thực trạng nợ đọng BHXH:
Năm Nợ năm trước chuyển sang Nợ phát sinh trong năm Nợ đã thu hồi trong năm Tiền lãi chậm đóng Tổng nợ đọng cuối kỳ
2015 498 triệu đồng 578 triệu đồng 520 triệu đồng 66 triệu đồng 586 triệu đồng
2016 570 triệu đồng 683 triệu đồng 642 triệu đồng 82 triệu đồng 724 triệu đồng
2017 634 triệu đồng 703 triệu đồng 650 triệu đồng 83 triệu đồng 733 triệu đồng
2018 709 triệu đồng 798 triệu đồng 734 triệu đồng 94 triệu đồng 828 triệu đồng

Tính đến cuối năm 2018, toàn huyện có hơn 30 đơn vị nợ BHXH trên 3 tháng. Các đơn vị nợ điển hình gồm: Công ty TNHH thiết bị điện Việt Á (nợ 16 tháng, số tiền 503 triệu đồng), Công ty TNHH cáp điện Việt Á (nợ 12 tháng, 67 triệu đồng), Công ty TNHH bảo vệ Long Hải (nợ 13 tháng, 12 triệu đồng), Công ty TNHH Thiên Phát (nợ 6 tháng, 7 triệu đồng), Công ty CP ACP (nợ 7 tháng, 5 triệu đồng).

  • Hạn chế và nguyên nhân: Tình trạng trốn đóng, nợ đọng kéo dài xuất phát từ việc chế tài xử phạt còn thấp; mức lãi suất phạt chậm đóng (1,0666%/tháng) thấp hơn lãi suất vay thương mại dẫn đến việc doanh nghiệp cố tình chiếm dụng quỹ để quay vòng vốn; công tác thanh tra liên ngành chưa thường xuyên; nhiều đơn vị tư nhân ký hợp đồng lao động đối phó hoặc không ký hợp đồng với NLĐ.

Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

Chương III đề xuất hệ thống các giải pháp nghiệp vụ và kiến nghị chính sách:

  • Định hướng: Mở rộng đối tượng bao phủ, phấn đấu thu đúng, thu đủ, giảm thiểu nợ đọng và bảo toàn nguồn quỹ.
  • 6 nhóm giải pháp trọng tâm tại BHXH huyện Đức Thọ:
    1. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền: Đa dạng hóa hình thức phổ biến pháp luật BHXH đến người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, làng nghề.
    2. Nâng cao trình độ cán bộ: Tập huấn kỹ năng chuyên môn, tăng cường tính chủ động, chuyển đổi tác phong từ hành chính thụ động sang tinh thần phục vụ.
    3. Tăng cường phối hợp liên ngành: Phối hợp chặt chẽ với cơ quan cấp phép đăng ký kinh doanh, cơ quan Thuế, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội và UBND các xã, thị trấn để nắm bắt chính xác biến động lao động và doanh nghiệp mới thành lập.
    4. Tích cực vận động khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Phân loại đối tượng, trực tiếp đến cơ sở hướng dẫn thủ tục đăng ký tham gia theo đúng quy định Luật BHXH 2014.
    5. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra: Tăng cường thanh tra chuyên ngành đột xuất đối với các đơn vị có dấu hiệu trốn đóng, đóng thiếu số lượng lao động hoặc nợ đọng kéo dài.
    6. Xử lý nghiêm minh vi phạm: Lập hồ sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính; kiên quyết phối hợp tổ chức công đoàn khởi kiện ra Tòa án hoặc chuyển hồ sơ đề nghị cơ quan công an khởi tố theo Điều 216 Bộ luật Hình sự đối với các hành vi cố tình trốn đóng.
  • Kiến nghị:
    • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Sửa đổi quy định nâng mức xử phạt hành chính; điều chỉnh lãi suất phạt chậm nộp BHXH lên mức cao hơn lãi suất ngân hàng thương mại để triệt tiêu động cơ chiếm dụng quỹ; ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành.
    • Đối với BHXH Việt Nam: Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ thu; nâng cấp phần mềm quản lý thu thống nhất; hỗ trợ kinh phí và trang thiết bị hiện đại cho cơ quan BHXH cấp huyện.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa được bức tranh toàn diện về công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn một huyện Bắc Trung Bộ trong giai đoạn bản lề 2015 - 2018:

  • Hệ thống dữ liệu thực nghiệm: Cung cấp chuỗi số liệu chi tiết qua 4 năm về 8 khối đơn vị sử dụng lao động, diễn biến lao động (tăng từ 5.835 lên 6.921 người), số thu thực tế (luôn hoàn thành vượt mức từ 103,5% đến 104,6% kế hoạch) và cơ cấu nợ đọng (tăng từ 586 triệu lên 828 triệu đồng với danh sách cụ thể các doanh nghiệp vi phạm).
  • Đóng góp thực tiễn: Khóa luận chỉ rõ những kẽ hở trong việc thực thi quy trình thu nộp, xác định rõ nguyên nhân gốc rễ của tình trạng chậm đóng do chênh lệch giữa lãi suất phạt nợ BHXH (1,0666%/tháng) và lãi suất ngân hàng thương mại. Từ đó, tác giả xây dựng được 6 giải pháp bám sát thực tế địa phương và các kiến nghị sửa đổi chính sách có giá trị thực tiễn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài nghiên cứu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp nội bộ tại cơ quan BHXH huyện Đức Thọ giai đoạn 2015 - 2018; chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học trực tiếp bằng bảng hỏi đối với người lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; phạm vi nghiên cứu tập trung vào BHXH bắt buộc tại một địa bàn hành chính cấp huyện nên chưa bao quát mảng BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi phân tích sang việc quản lý thu toàn diện bao gồm cả BHXH tự nguyện, BHTN và BHYT.
    • Nghiên cứu tác động của việc ứng dụng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm và giao dịch điện tử trong công tác quản lý thu ở giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Bảo hiểm, Tài chính công, Quản lý kinh tế và Quản trị nhân lực khi nghiên cứu về quy trình nghiệp vụ thu và cơ chế quản lý tài chính quỹ an sinh xã hội.
  • Cán bộ nghiệp vụ tại cơ quan BHXH các quận, huyện trong việc tham khảo kinh nghiệm phân loại đơn vị sử dụng lao động, quản lý nợ đọng và tổ chức phối hợp liên ngành trên địa bàn cấp huyện.
  • Các nhà hoạch định chính sách tham khảo dữ liệu thực tế về khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực thi tại cơ sở, đặc biệt là cơ chế tính lãi chậm nộp và chế tài xử lý nợ đọng BHXH.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu tổ chức và nhân sự phụ trách công tác thu tại BHXH huyện Đức Thọ giai đoạn 2015 - 2018 được bố trí ra sao?
BHXH huyện Đức Thọ hoạt động với 12 cán bộ, công chức, viên chức (10 người trình độ đại học, 2 người cao đẳng). Bộ máy gồm Ban Giám đốc và 6 bộ phận. Trong đó, Bộ phận thu được phân công 2 cán bộ chuyên quản trực tiếp phụ trách theo từng địa bàn và nhóm đơn vị sử dụng lao động cụ thể để theo dõi biến động lao động, quỹ lương và đôn đốc thu nộp.

2. Tỷ lệ bao phủ đơn vị và người lao động tham gia BHXH bắt buộc tại huyện Đức Thọ giai đoạn 2015 - 2018 đạt mức nào?
Số đơn vị tham gia tăng từ 155 đơn vị (năm 2015) lên 272 đơn vị (năm 2018), đạt tỷ lệ 46,33% tổng số đơn vị thuộc diện quản lý. Số lao động tham gia tăng từ 5.835 người lên 6.921 người, tuy nhiên chỉ chiếm khoảng 50% số lao động thuộc diện bắt buộc tham gia và đạt 33,68% tổng số dân trong độ tuổi lao động của toàn huyện vào năm 2018.

3. Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc tại huyện Đức Thọ diễn biến như thế nào qua các năm?
Nợ đọng có xu hướng gia tăng liên tục: năm 2015 là 586 triệu đồng, năm 2016 là 724 triệu đồng, năm 2017 là 733 triệu đồng và năm 2018 tăng lên 828 triệu đồng. Hết năm 2018, có hơn 30 đơn vị nợ trên 3 tháng, trong đó đơn vị nợ lớn nhất là Công ty TNHH thiết bị điện Việt Á với số tiền 503 triệu đồng (nợ 16 tháng).

4. Vì sao mức lãi suất phạt chậm đóng BHXH chưa đủ sức răn đe các đơn vị vi phạm?
Theo phân tích trong khóa luận, mức lãi suất phạt chậm đóng, truy đóng BHXH áp dụng là 1,0666%/tháng. Mức lãi suất này thấp hơn so với lãi suất vay vốn sản xuất kinh doanh tại các ngân hàng thương mại, dẫn đến việc một số doanh nghiệp sẵn sàng chịu phạt chậm nộp để chiếm dụng nguồn tiền đóng BHXH nhằm quay vòng vốn kinh doanh.

5. Quy trình quản lý dòng tiền thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đức Thọ được thực hiện qua những kênh nào?
BHXH huyện không thu tiền mặt trực tiếp. Toàn bộ tiền đóng của khối hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể và xã/thị trấn được chuyển vào tài khoản chuyên thu mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Đức Thọ. Tiền đóng của khối doanh nghiệp được nộp vào tài khoản chuyên thu tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Đức Thọ, sau đó định kỳ đối chiếu và chuyển nộp về tài khoản BHXH tỉnh Hà Tĩnh.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tú đã phản ánh chân thực, chi tiết bức tranh quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đức Thọ giai đoạn 2015 - 2018. Mặc dù công tác thu luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch tỉnh giao và diện bao phủ có sự tăng trưởng qua từng năm, cơ quan vẫn phải đối mặt với thách thức lớn về tỷ lệ tham gia thực tế còn thấp ở khối tư nhân và tình trạng nợ đọng kéo dài. Hệ thống 6 giải pháp và các kiến nghị sửa đổi khung pháp lý được đề xuất là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thu BHXH bắt buộc tại địa phương.