CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP.Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp Quản lý nguồn nhân lực ( Human Resource Management) liên quan đến hai vấn đề cơ bản đó chính là “quản trị” và “nhân lực”. Quản trị là quá trình làm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu quả cao. Vấn đề quản trị có sự kết hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật lãnh đạo. Nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nhân viên có những năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển , có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với các nhà quản trị gia, hành vi của họ có thể được thay đổi do chính bản thân họ hay phụ thuộc vào môi trường xung quanh. Do đó, công tác quản trị nguồn nhân lực luôn gặp phải nhiều khó khăn hơn so với việc quản lý những lĩnh vực khác. Tầm quan trọng của quản trị nhân lực tăng mạnh trên thế giới trong mấy thập kỉ gần đây khi các doanh nghiệp đều phải đối đầu với vấn đề cạnh tranh gay gắt trên thị trường, vật lộn với việc suy thoái kinh tế và đáp ứng với nhu cầu ngày càng tăng của nhân viên. Việt Nam không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế. Điều này được coi như một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cản trở nền kinh tế phát triển. Thêm vào đó, Việt Nam còn phải đối đầu với nhiều vấn đề gay gắt của một nước sau chiến tranh và nền kinh tế kém phát triển. Đổi mới quản lý kinh tế nói chung , quản trị nguồn nhân lực nói riêng là nguồn tiềm năng to lớn thúc đẩy kinh tế phát triển.
Tuy nhiên, khái niệm và thực tiễn áp dụng quản lý nguồn nhân lực không giống nhau giữa các quốc gia. Trong một nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam, nơi trình độ công nghê, kĩ thuật còn ở mức thấp, kinh tế chưa ổn định và nhà nước chủ nước :” quá trình phát triển bằng còn người và vì con người “ , thì quản trị nhân lực là hệ thống các quan điểm , chính sách và hoạt động thực tiễn được sử dụng trong quản trị 1 con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên. Chính vì thế, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại Công ty Cổ Phần Thủy Khí Á Châu” làm đề tài cho nghiên cứu của mình. Khóa luận đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận về Quản lý nhân lực và vai trò quan trọng của Quản lý nhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó tập trung phân tích, làm rõ các quan điểm, khái niệm Quản lý nhân lực, các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhân lực, cũng như yếu tố trong Quản lý nhân lực doanh nghiệp. Qua nghiên cứu lý luận kết hợp với phân tích thực tiễn tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cổ Phần Thủy Khí Á Châu, ta thấy được tuyển dụng và đào tạo là hai khâu rất quan trọng của quản lý nhân lực. Tuyển dụng và đào tạo là điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ nhân lực đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Công ty muốn phát triển, ngoài những yếu tố liên quan đến nguồn vốn thì Công ty phải có một đội ngũ nhân viên giỏi, năng động sáng tạo và giàu kinh nghiệm.
Điều này phụ thuộc phần lớn vào quá trình tuyển dụng và đào tạo của Công ty.2 Khung nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Theo giáo sư Phạm Minh Hạc nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sang tham gia một công việc nào đó. Khi nói đến nguồn nhân lực, chúng ta nói đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Nguồn nhân lực với tư cách là sự phát triển của kinh tế xã hội, cũng có thể hiểu là tổng hợp các cá nhân những người cụ thể tham gia vào lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động. Nếu xét nguồn nhân lực trên góc độ số lượng thì nó được biểu hiện qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động, tỷ lệ thuận với 2 tốc độ tăng trưởng dân số. Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện qua các mặt như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, sức khỏe, khả năng sáng tạo… Nếu hiểu nguồn nhân lực là nguồn lực của mỗi người thì nó bao gồm thể lực và trí lực. Trong quá trình hoạt động sản xuất trực tiếp thì chủ yếu là tận dụng thể lực, trí lực thường chỉ được vận dụng ở các vị trí quản lý.
Ngày nay các doanh nghiệp đang đi vào vấn đề khai thác trí lực để phục vụ cho thể lực hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Như vậy có rất nhiều khái niệm về nguồn nhân lực nhưng ta có thể xem khái niệm nguồn nhân lực trên hai góc độ: Nguồn nhân lực xã hội: nguồn nhân lực xã hội là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn nhân lực doanh nghiệp: là lực lượng lao động của doanh nghiệp chính là số người có tên trong danh sách của doanh nghiệp và được doanh nghiệp trả lương.2 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Quản lý nguồn nhân lực chính là quản lý tập thể người và các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tổ chức mà họ làm việc. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động sản xuất, doanh nghiệp có thể cần ít hay nhiều nguồn nhân lực tùy thuộc vào khối lượng công việc.
Quản lý nguồn nhân lực đảm bảo cho tổ chức hoạt động trong một khuôn khổ đã định sẵn, công việc được sắp xếp có trật tự, kỷ cương và phù hợp với khả năng của người lao động. Như vậy ta có thể hiểu quản lý nguồn nhân lực là quá trình tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo phát triển và tạo điều kiện thuận lợi để đạt được hiệu quả làm việc cao trong một tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu đã vạch ra.2 Mục tiêu quản lý nguồn nhân lực Để tạo ra được một đội ngũ lao động có hiệu quả thì các nhà quản lý phải biết cách sử dụng và quản lý theo các kế hoạch đã được vạch ra. Thường xuyên đánh giá năng lực làm việc của nhân viên thông qua kết quả lao động và các đợt thi đua về các mặt như kỹ năng chuyên môn, thành tích, khả năng sáng tạo, đóng góp cho tổ chức. Để phát triển bền vững, tổ chức cần tạo ra được một nguồn nhân lực ổn định và ngày càng được cải thiện về chất lượng, sự lớn mạnh của công ty là ở đó.
Các mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực: Mục tiêu về xã hội: 3 Ngoài những mục tiêu của công ty thì tổ chức cần hướng tới mục tiêu hường về xã hội, cụ thể là tìm hiểu được những nhu cầu mà xã hội đang cần, thỏa mãn được các lợi ích xã hội, có như thế tổ chức mới tồn tại được lâu dài. Mục tiêu cá nhân: Đây là điều mà các nhà quản lý phải hết sức quan tâm. Muốn đạt mục đích quản lý con người thì phải tạo điều kiện cho người quản lý lao động phát huy sức mạnh, tạo điều kiện về cả vật chất lẫn tinh thần. Mỗi cá nhân có thỏa mãn được nhu cầu thì họ mới đóng góp xứng đáng cho những gì họ được hưởng, đó là tâm lý chung của tất cả người lao động.
Mục tiêu của tổ chức: Trả lời câu hỏi làm thế nào để cho doanh nghiệp của mình hoạt động một cách hiệu quả với điều kiện nguồn nhân lực và thực tế đang có để phù hợp với yêu cầu khách quan của môi trường và yêu cầu của chính doanh nghiệp đặt ra. Kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý, thông suốt từ trên xuống dưới… Mục tiêu của các bộ phận chức năng: Các phòng ban phải thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời kết hợp các phòng ban khác thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.3 Tiêu chí đánh giá 1. Chỉ tiêu định lượng Việc đánh giá hiệu quả sử dụng trong mỗi doanh nghiệp là cần thiết, thông qua chỉ tiêu về hiệu quả lao động của doanh nghiệp mình so với kỳ trước, so sánh các doanh nghiệp khác trong ngành, các doanh nghiệp trong cùng địa bàn, để thấy việc sử dụng lao động của doanh nghiệp mình đã tốt hay chưa, từ đó phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu trong việc tổ chức, quản lý và sử dụng lao động để đạt được hiệu quả sử dụng lao động cao hơn. Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong từng doanh nghiệp không thể nói một cách chung chung mà phải thông qua một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng suất lao động bình quân, lợi nhuận bình quân trên một nhân viên, hiệu quả sử dụng lao động ngoài các chỉ tiêu trên ta còn có hiệu quả sử dụng lao động qua các chỉ tiêu doanh thu trên 1000đ tiền lương, lợi nhuận thu được trên 1000đ tiền lương.
Doanh thu bình quân TR TR= T Trong đó: TR : Doanh thu bình quân 4 TR: Tổng doanh thu T : Tổng số lao động Doanh thu bình quân là một chỉ tiêu tổng hợp cho phép đánh giá một cách chung nhất của hiệu quả sử dụng lao động của toàn bộ doanh nghiệp. Qua năng suất lao động bình quân ta có thể so sánh giữa các kỳ kinh doanh với nhau, tình theo tháng, quý hoặc năm tùy theo từng doanh nghiệp. Chỉ tiêu doanh thu bình quân cho ta thấy trong một thời gian nhất định ( tháng, quý, năm ) thì trung bình một lao động tạo ra doanh thu là bao nhiêu.