CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ 1.1 – Khái niệm ngân sách Nhà nước cấp xã Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của nhà nước. Điều này có nghĩa sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước gắn liền với sản xuất hàng hoá, với sự ra đời của nhà nước. Ở Việt Nam ngân sách xã, phường, thị trấn là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam. Vì vậy ngân sách xã, phường, thị trấn là toàn bộ những khoản thu chi của Nhà nước cấp xã, phường, thị trấn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cấp xã, phường, thị trấn.
Như vậy ngân sách xã, phường thị trấn có những đặc trưng của ngân sách Nhà nước, đó là : - Thứ nhất: ngân sách là một bảng liệt kê trong đó có dự kiến và cho phép thực hiện các khoản thu chi bằng tiền của một chủ thể nào đó. - Thứ hai: ngân sách tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Đối với ngân sách nhà nước, các biểu hiện của nó rất đa dạng và phong phú. Chẳng hạn các doanh nghiệp và người dân nộp thuế cho nhà nước góp phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hình thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, đồng thời doanh nghiệp và người dân được Nhà nước trợ cấp, đầu tư, tài trợ vốn (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác (cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực) và được nhà nước bảo đảm về quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội và các phúc lợi công cộng khác.
Việc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước phản ánh luật pháp hoá các hoạt động của nhà nước bởi dự toán thu – chi ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền thảo luận, quyết định và phê chuẩn trong khuôn khổ pháp luật. Bằng quyền lực chính trị và quyền lực chủ sở hữu, qua việc chủ động tăng hoặc giảm quy mô, điều chỉnh kết cấu, mức độ bội chi và biện pháp bù đắp bội chi ngân sách mà Nhà nước tác động vào nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế. Việc bố trí ngân sách Nhà nước thể hiện rất rõ nét tính ưu tiên chiến lược để giải quyết nhiều vấn đề kinh tế chính trị do thực tế đặt ra. Như vậy bản chất của Ngân sách Nhà nước là hệ thống những mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường thứ nhất ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thứ hai ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Sự thay đổi trong chính sách thu chi có thể hướng vào mục tiêu ổn định hay tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Trong hệ thống tài chính, ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và tổ chức các hoạt động của hệ thống tài chính.
Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong quá trình quản lý ngân sách Nhà nước, vấn đề quan trọng là quản lý thu, thực hiện nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách. Trong thực tế, quá trình thu, chi ngân sách Nhà nước luôn biến đổi không ngừng và có sự chuyển hoá theo chu kỳ kinh tế. Thu ngân sách Nhà nước là toàn bộ khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách nhà nước để thoả mản các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Tuy nhiên, về thực chất thu ngân sách Nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách Nhà nước mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Phần lớn các khoản thu ngân sách Nhà nước đều mang tính chất bắt buộc, chủ yếu dưới hình thức thuế. Thu ngân sách Nhà nước có vai trò đảm bảo các nguồn vốn thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước. Thông qua thu ngân sách Nhà nước, Nhà nước thực hiện việc quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.
Như vậy việc tăng thu ngân sách Nhà nước được xem là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô. Chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích, chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng. Chi ngân sách Nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Chi ngân sách Nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách Nhà nước.
Thu ngân sách Nhà nước là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách Nhà nước. Ngược lại sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng thu nhập của ngân sách Nhà nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Cân đối ngân sách Nhà nước là một trong bộ phận của chính sách tài khoá phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nước đã đề ra ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể. Xuất phát từ thực tiễn một nền kinh tế nguồn lực tài chính cung ứng để thoả mản các nhu cầu là có giới hạn, nên cân đối ngân sách Nhà nước cần phải thiết lập và tôn trọng kỷ luật tài khoá tổng thể, để ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả.
Nghĩa là quá trình lập và phân bổ ngân sách Nhà nước cần phải đánh đổi và lựa chọn ưu tiên giữa các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Có nhiều quan điểm về cân đối ngân sách Nhà nước, như: Quan điểm ngân sách cân bằng, quan điểm ngân sách chu kỳ, quan điểm ngân sách thâm hụt, quan điểm ngân sách duy nhất, quan điểm hai ngân sách… Theo quan điểm hai ngân sách, ngân sách nhà nước nên chia làm hai bộ phận là: Ngân sách điều hành (ngân sách thường xuyên) để đảm bảo hoạt động của guồng máy nhà nước và ngân sách đầu tư để tham gia vào các lĩnh vực sản xuất đặc biệt của nhà nước. Ngân sách điều hành sẽ thực hiện theo nguyên tắc “nhất niên” còn ngân sách đầu tư có thể thực hiện theo nguyên tắc “đa niên”. Về nguồn tài trợ ngân sách đầu tư có thể được tài trợ bằng các khoản vay trong hay ngoài nước.
Trong mỗi quốc gia ngân sách Nhà nước được tổ chức và quản lý theo hệ thống gồm nhiều cấp ngân sách. Có thể quan niệm hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách. Hệ thống ngân sách Nhà nước được tổ chức tương ứng với hệ thống Chính quyền Nhà nước. Ở Việt Nam hệ thống ngân sách Nhà nước hiện nay bao gồm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách các đơn vị hành chính có cấp Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.1 Cơ cấu hệ thống ngân sách Nhà nước hiện hành của Việt Nam được mô tả theo sơ đồ sau: HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG NGÂN SÁCH TỈNH- NGÂN SÁCH THÀNH PHỐ THUỘC TRUNG ƯƠNG NGÂN SÁCH THÀNH PHỐ - NGÂN SÁCH THỊ XÃ NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN THUỘC TỈNH NGÂN SÁCH CẤP XÃ – NGÂN SÁCH THỊ TRẤN NGÂN SÁCH PHƯỜNG Ở Việt Nam, quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc: - Ngân sách Trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào, do cấp ngân sách đó cân đối. Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Không được dùng ngân sách cấp này để chi cho các nhiệm vụ của cấp khác.
- Thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới, để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Lý thuyết phân cấp và quản lý của chính quyền địa phương Phân cấp là một vấn đề căn bản trong tổ chức quản lý hành chính công nói chung và quản lý tài chính công nói riêng. Với đặc điểm chính trị, kinh tế xã hội của địa phương, nhiều lý thuyết đã đưa ra tính hợp lý trong việc đưa ra quyết định chính sách công, trong bối cảnh nâng cao vai trò tích cực của chính quyền địa phương nhằm mục đích cung cấp hàng hoá công cho xã hội một cách hiệu quả nhất. Cụ thể : - Mô hình hàng hoá công địa phương của Tiebout năm 1956 Quy mô của chính quyền tối ưu được xác lập bằng việc đánh đổi lợi ích từ chi phí chia sẽ so với chi phí tắc nghẽn.
Người dân xem xét “chi phí thuế” và dịch vụ công được cung cấp bởi chính quyền địa phương để quyết định nơi định cư sinh sống.