Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác quan lý dự án dau tư xây dựng công trình tại một doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án dau tư xây dung công trình tại Công ty cổ phan Cảng Thanh Hóa giai đoạn 2017-2021 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án dau tư xây dựng công trình tại Công ty cổ phan Cảng Thanh Hóa CHUONG 1: CO SO LY LUAN CHUNG VE CONG TAC QUAN LY DU AN ĐẦU TƯ XÂY DUNG CONG TRÌNH TẠI MỘT DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VE DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái niệm về dự án đầu tư XDCT Theo khoản 15, Điều 3, Luật xây dựng số 50/2014/QH13 của Quốc hội ban hành ngày 18/6/2014 định nghĩa: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn dé tiến hành hoạt động xây dựng dé xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thê hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.
Đặc điểm của dự án đầu tư XDCT Thứ nhất, dự án có tính duy nhất, mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt, lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi đã tạo nên tính duy nhất cho mỗi dự án. Cũng bởi đặc điểm này khiến cho dự án đã hàm chứa rủi ro. Những sai lầm của việc lập dự án, nhất là các sai lầm về chủ trương đầu tư thường hay gây nên nhiều hậu quả to lớn, khó sửa chữa và tồn tại lâu dài. Thứ hai, dự án bị hạn chế về thời gian và quy mô.
Các dự án đầu tư xây dựng thường có quy mô đầu tư xây dựng lớn, cho nên đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Trong quá trình thực hiện thì nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết. Dự án bị hạn chế về thời gian và quy mô. Mỗi dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rất rõ ràng, tức là thời gian quản lý dự án có thé xác định được và chỉ xảy ra một lần.
Thứ ba, dự án đầu tư xây dựng thường đòi hỏi diện tích sử dụng lớn. Điều này có ảnh hưởng tới nhiều bên liên quan do phải đền bù giải phóng mặt bằng (GPMB) và những phương án tái định cư. Do đó công tác GPMB và phương án tái định cư có ảnh hưởng rât lớn tới tiên độ thực hiện của dự án. Thứ tư, dự án đầu tư xây dựng liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau.
Việc quản lý các nguồn lực của một dự án trong trạng thái luôn biến động sẽ phức tạp hơn các quá trình sản xuất thường ngày trong trang thái 6n định của những don vị sản xuất. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản cũng có tính chất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn có thê ở nhiều địa phương cùng lúc. Vì vậy khi tiến hành hoạt động này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó cần phân định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thé tham gia đầu tư. Thứ năm, dự án đầu tư xây dựng có tính thay đôi, QLDA là quá trình quản lý sự thay đổi của dự án và là quá trình mang tính phức tạp hơn nhiều so với việc quản lý công việc thường ngày của một công ty sản xuất chế tạo.
Bởi lẽ, công việc thường ngày là những công việc có tính lặp đi lặp lại, diễn ra theo các quy tắc chặt chẽ và được xác định rõ ràng. Công việc của dự án và những thay đổi của nó có xu hướng là quá trình “một lần” duy nhất. Đó chính là bản chất đặc trưng của dự án đầu tư xây dựng. Vai trò của dự án đầu tư XDCT Đôi với các cơ quan quản lý nhà nước: Dự án đâu tư xây dựng là cơ sở thâm định và ra quyết định đầu tư.
Trên góc độ Chủ dau tư: “Dự án đầu tư xây dựng là căn cứ dé xin phép đầu tư và giấy phép hoạt động, xin phép nhập khẩu máy móc vật tư kỹ thuật, xin hưởng các khoản ưu đãi đầu tư, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước, là căn cứ dé kêu gọi góp vốn hoặc phát hành các cô phiếu, trái phiếu.” Dự án đầu tư được xây dựng sẽ đem lại những kết quả kinh tế - xã hội to lớn: - Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tạo điều kiện giao thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình được thay đôi, mang lại nguồn thu về ngân sách là rât lớn. - Kết quả gián tiếp: Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị. Phân loại dự án đầu tư XDCT - Căn cứ quy mô, mức độ quan trọng, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. - Căn cứ công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau: Dự án đầu tư XDCT dân dung; Dự án đầu tu XDCT công nghiệp; Dự án đầu tư XDCT ha tang kỹ thuật; Dự án đầu tư XDCT giao thông; Dự án đầu tư XDCT phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Dự án đầu tư XDCT quốc phòng, an ninh; Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp khác.
- Căn cứ nguôn vôn sử dụng và hình thức đâu tư, dự án đâu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau: Dự án sử dụng vôn đâu tư công; Dự án sử dụng vôn nhà nước ngoài dau tư công; Dự án PPP; Dự án sử dung von khác; Dự án dau tư xây dựng được sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau. KHÁI QUÁT VE QUAN LÝ DU ÁN DAU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái niệm và đặc điểm của quan lý dự án đầu tư XDCT 1. Khái niệm quản lý dự án đầu tr XDCT Nhìn chung, khái niệm của QLDA đầu tư XDCT được hiểu tương tự như khái niệm QLDA đầu tư.
“Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống dé tiễn hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn. Đề thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tô chức, chi đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án. Nói cách khác, quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Đặc điểm của quản lý dự án đầu te XDCT Chủ thê của quản lý dự án chính là người quản lý dự án.
Khách thể của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án. Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tôn tại của dự án. Mục đích của quản lý dự án là đê thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phâm cuôi cùng phải đáp ứng được yêu câu của khách hàng.
Bản thân việc quản lý không phải là mục đích mà là cách thực hiện mục đích. Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tô chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thé vận hành có hiệu quả, mục tiêu quan lý cũng không được thực hiện. Quá trình trực hiện mỗi dự án cần có tính sang tao, vi thé chúng ta thường coi việc quan lý dự án là quản lý sáng tạo.
Vai trò của quản lý dự án đầu tư XDCT * Thông qua quan lý dự án có thể tránh được những sai sót trong những công trình lớn, phức tạp Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng ngày càng nhiều. Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, các công trình thủy lợi, các trạm điện và các công trình phục vụ ngành hàng không. Cho dù là nhà dau tư hay người tiếp quan dự án đều khó gánh vác được những tổn that to lớn do sai lầm trong quản lý gây ra. Thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dự án khoa học hiện đại giúp việc thực hiện các dự án công trình lớn, phức tạp đạt được mục tiêu đê ra một cách thuận lợi.
Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay, quản lý hiệu quả các dự án xây dựng là cực kỳ quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp. * Quản lý dự án nói chung là sự điều phối nỗ lực cá nhân, tập thể; đòi hỏi sự hợp tác chặt ché, kết hợp hài hoà giữa các nguồn lực hạn hẹp - Liên kêt tât cả các hoạt động, công việc của dự án. - Tạo điêu kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, găn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng va nhà cung cap dau vào cho dự án. - Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án.