Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và ngân hàng thương mại - Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và ngân hàng thương mại. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cho đến nay ở Việt Nam mới chỉ có rất ít đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến cơ chế phối hợp thu NSNN.
Nhìn chung, các nghiên cứu đều xem xét việc phối hợp thu NSNN dưới các quan hệ tổ chức thu NSNN của KBNN, các cơ quan thu và NHTM với nhau. Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: - Hoàn thiện mô hình phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu giữa ngành Thuế - Kho bạc Nhà nước - Hải quan - Tài chính của Bộ Tài chính - Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Phạm Thượng Tình - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012. Luận văn đã đề cập đến việc phối hợp thu thuế, nêu được mô hình tổ chức phối hợp thu thuế, tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức mô hình, mà chưa đề cập đến nội dung chi tiết của quy trình phối hợp thu, vấn đề phối hợp thu với NHTM còn chưa giải quyết được. - Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp trong quản lý thu NSNN giữa KBNN với cơ quan Thuế trên địa bàn huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc - nghiên cứu khoa học của KBNN Vĩnh Phúc năm 2014.
Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng thu NSNN qua KBNN, vấn đề phối hợp với cơ quan Thuế để hiệu quả thu NSNN được tốt hơn. Tuy nhiên, đề tài cũng mới chỉ khảo sát trên địa bàn huyện Bình Xuyên - Vĩnh phúc, chưa nghiên cứu về phối hợp thu NSNN với cơ quan Hải quan, NHTM, chưa có phân tích, đánh giá một cách tổng thể trên bình diện cả nước, chưa có sự so sánh cần thiết giữa các địa phương, khu vực để rút ra những đặc điểm chung làm cơ sở đề xuất các giải pháp toàn diện. 6 - Phối hợp thực hiện thu thuế nội địa giữa cơ quan Thuế - KBNN - Ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Lê Thị Loan - Trường Đại học Kinh tế (Đại học quốc gia Hà Nội), năm 2014. Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về phối hợp thu và nêu thực trạng mô hình phối hợp thu giữa cơ quan Thuế, KBNN, NHTM.
Tuy nhiên, phối hợp thu thuế nội địa mới chỉ là một nội dung của phối hợp thu NSNN, trong khi phối hợp thu NSNN bao gồm cả thu thuế xuất nhập khẩu, các khoản thu khác, do vậy, việc phối hợp thu NSNN với cơ quan Hải quan vẫn còn bỏ trống, ngoài ra, trong giải pháp của luận văn nêu cũng chưa gắn liền với chiến lược phát triển chung của Chính phủ điện tử, chiến lược phát triển của KBNN trong những năm tới. Một số bài báo nghiên cứu về cơ chế phối hợp thu NSNN, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết trên báo thì chưa thể phân tích sâu về thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp thiết thực cho vấn đề nghiên cứu; một số đề tài khác chủ yếu nghiên cứu thu NSNN của từng cơ quan, tổ chức như: Ngành Thuế, Hải quan, KBNN, chưa có đánh giá, cũng như nêu giải pháp trong việc phối hợp thu NSNN giữa các ngành với nhau. Ngoài những công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu nêu trên, tác giả đã nghiên cứu thêm giáo trình quản lý tài chính công, các luận văn thạc sỹ, công trình nghiên cứu khoa học, dự án Hiện đại hóa thu NSNN của Bộ Tài chính nhằm tìm hiểu, nghiên cứu thêm lý luận quản lý thu NSNN, quy trình thu nộp NSNN qua KBNN, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến việc tổ chức thu NSNN. Tóm lại, phần lớn các công trình nghiên cứu và bài viết trên đều tập trung làm rõ quản lý thu NSNN qua KBNN, quy trình thu NSNN giữa KBNN và cơ quan Thuế, hoặc phối hợp thu thuế giữa cơ quan Hải quan và KBNN.
Từ sau Thông tư số 328/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN đến nay chưa có 7 công trình nào nghiên cứu tổng hợp, toàn diện nào về cơ chế phối hợp thu NSNN giữa KBNN - cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan - NHTM.Vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài trên với hy vọng có cái nhìn xác thực, hệ thống trên bình diện cả nước về phối hợp thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM nhằm đưa ra giải pháp quản lý hiệu quả hơn trong công tác quản lý thu NSNN. Khoảng trống đề tài cần nghiên cứu Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trước đây, cả các đề tài có liên quan trực tiếp và liên quan khác đều được thực hiện rất công phu, đã có đóng góp trong việc đề xuất các giải pháp để hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN. Nhưng vẫn còn có khoảng trống nghiên cứu nhất định như: - Chưa phân tích một cách toàn diện về cơ chế phối hợp thu giữa các cơ quan, tổ chức thu NSNN, đảm bảo sự thống nhất về quản lý phục vụ thiết thực cho cải cách thủ tục hành chính trong việc thu, nộp NSNN. - Vấn đề phối hợp thu NSNN trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Cơ sở lý luận chung về cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm, đặc điểm thu ngân sách nhà nước - Khái niệm thu ngân sách nhà nước: Thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị huy động các nguồn tài chính trong xã hội để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. 8 - Đặc điểm thu ngân sách nhà nước: + Thứ nhất, trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN. Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. + Thứ hai, mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước. + Thứ ba, thu NSNN luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và các phạm trù giá trị.
Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ thống thu NSNN. Nhưng chính hệ thống thu NSNN lại là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị. + Thứ tư, thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội, căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN.
+ Thứ năm, thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu; thu NSNN theo hai phương thức tự nguyện và bắt buộc. Vai trò của thu ngân sách nhà nước Thu NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước và nền kinh tế - xã hội, cụ thể là: - Thứ nhất, vai trò của thu NSNN là công cụ tập trung nguồn lực tài chính để đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước: Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước, 9 các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước được đáp ứng chủ yếu bởi các nguồn thu NSNN. Vai trò này được thể hiện ở việc khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển.
Các nguồn lực tài chính này có thể được tập trung ở cả trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, có bắt buộc và tự nguyện. - Thứ hai, thông qua thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nền kinh tế - xã hội hoạt động ngày càng hiệu quả hơn: Gắn liền với vai trò lãnh đạo của Nhà nước, thu NSNN chi phối hoạt động của nền kinh tế. Thu ngân sách là một công cụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hoạt động thu cùng với chi như tấm gương phản ánh các định hướng phát triển đó.
Thông qua chính sách thu của mình thể hiện sự ưu đãi với các ngành nghề cần bảo hộ hay khuyến khích phát triển, hoặc tỏ thái độ đối với những ngành nghề gây thiệt hại lợi ích chung của toàn xã hội, … - Thứ ba, thu NSNN đóng vai trò tạo nguồn đảm bảo giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội.