Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thực trạng chính sách Marketing-mix đối với các sản phẩm điện tử, điện máy tại công ty TNHH MTV Việt Tuấn Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách chính Marketing- mix đối với các sản phẩm điện tử, điện máy tại công ty TNHH MTV Việt Tuấn PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Tổng kết lại quá trình trình nghiên cứu, đề xuất giải pháp kiến nghị đối với công ty để hoàn thiện vấn đề nghiên cứu. SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Trà My PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về Marketing - mix 1.1 Khái niệm về Marketing Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và thông tin, con người đã không ngừng nghiên cứu, khai thác và cho ra rất nhiều định nghĩa về marketing. Phải nói rằng marketing trực tuyến không còn quá xa lạ đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, qua từng thời điểm phát triển có rất nhiều khái niệm về marketing khác nhau. Theo quan điểm của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay thì: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của họ thông qua trao đổi về một loại sản phẩm/dịch vụ nào đó trên thị trường ( Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2005). Theo Philip Kotler - giáo sư marketing nổi tiếng của Mỹ định nghĩa: “Marketing là quá trình xây dựng và cung cấp những giá trị thiết thực đến khách hàng thông qua sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp đó, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng nhằm thu về lợi ích cho doanh nghiệp”. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2007: “Marketing là tập hơp các hoạt động và quá trình xây dựng, giao tiếp, cung cấp và trao đổi những thứ có giá trị cho khách hàng, đối tác và xã hội”.Vũ Thế Phú: “Marketing là toàn bộ những hoạt động của doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu chưa được thỏa mãn của người tiêu dùng, để tìm kiếm các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể sản xuất được, tìm cách phân phối chúng đến những địa điểm thuận lợi với giá cả và thời điểm thích hợp nhất cho người tiêu thụ”.
Tóm lại marketing là quá trình tạo ra giá trị, truyền thông và phân phối những giá trị đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và giúp đem lại lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp. SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Trà My 1.2 Vai trò của marketing Đối với doanh nghiệp Marketing có mặt bắt dầu từ khi doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Đó là các hoạt động nghiên cứu thị trường, tìm hiểu các phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng hay thu nhập của người dân.
Sau đó doanh nghiệp tiến hành sản xuất theo đúng những gì mà mình đã tìm hiểu, nghiên cứu. Marketing giúp cho doanh nghiệp có thể tuyên truyền quảng bá sản phấm đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Từ chỗ khách hàng biết, quan tâm, hiểu, tin cho đến mua sản phẩm của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi có nhiều hoạt dộng Marketing hỗ trợ, làm nhịp cầu nối cho sản phẩm đến đúng nhu cầu của người tiêu dùng. Để đáp ứmg được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và trước sự cạnh tranh gay gắt của nến kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự đầu tư dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại để có thế đưa ra thị trường những sản phẩm ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh và làm hài lòng người tiêu dùng nó.
Marketing giúp doanh nghiệp cải tiến sản phẩm, gia tăng dịch vụ, định được các mức giá ứng phó được với những biến động trên thị trường, có các chiến luợc giải phóng hàng tốn kho, để ra các giải pháp dể đối phó lại với các đổi thủ canh tranh của mình giành lại thị phấn,.( Theo Đinh Tiên Minh, 2012) Đối với ngƣời tiều dùng Sản phẩm nào mà có nhiều hãng cùng tham gia cung ứng thì người tiêu dùng càng có nhiều lợi ích. Bởi vì trước áp lực cạnh tranh, sản phẩm có xu hướng ngày càng đa dạng phong phú về kích cỡ, chủng loại, kiểu dáng nhưng giá thành lại rẻ hơn, chất lượng hơn và có nhiểu dịch vụ ưu đãi hơn. Ngoài ra, các hoạt động Marketing còn kích thích nhu cầu, khuyến khích sự tiêu dùng những mặt hàng mới hoặc hàng có khả năng thay thế, có khả năng hoặc bổ sung cho sản phẩm mà khách hàng đang sử dụng ở thời điểm hiện tại. Chưa bao giờ khách hàng lại dược chăm sóc tận tình chu đáo như nền kinh tế thị trường tạo ra.
Họ đưa ra các yêu cầu, đòi hỏi về các sản phẩm mà doanh nghiệp cẩn đáp ứng. Nếu các yêu cầu của khách hàng không được thỏa mãn, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đã để mất đi nguồn "nguồn sống" lâu dài của mình. SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Trà My Khi các hoạt động Marketing được triển khai rộng rãi ở rất nhiều doanh nghiệp sẽ làm cho của cải của toàn xã hội sẽ tăng lên với chất lượng tốt hơn, sản phẩm đa dạng phong phú với giá thành hạ sẽ kiềm chế được lạm phát, bình ổn được giá cả trong và ngoài nước.
Các hoạt động Marketing thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh để giành lấy khách hàng về phía mình, giành lấy lợi nhuận mục tiêu lợi nhuận cao nhất. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy toàn xã hội phát triển. Khái niệm về chiến lược marketing - mix Marketing - mix hay còn gọi là marketing hỗn hợp chỉ tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp được doanh nghiệp sử dụng để đạt được mục tiêu tiếp thị trên thị trường. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1953 bởi Neil Borden, là chủ tịch của hiệp hội marketing Hoa Kỳ.
Carthy: “ Marketing - mix hay marketing hốn hợp là một hệ thống đồng bộ các công cụ có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động và chinh phục khách hàng”. Theo Edmund Jerome Mc Carth, nhà tiếp thị người Mỹ đã đề xuất khái niệm về tiếp thị hỗn hợp 4P trong cuốn Basic marketing vào năm 1960. Tác giả xác định nhà tiếp thị cơ bản có bốn biến số mafhoj có thể sử dụng trong xây dựng chiến lược tiếp thị giá cả, sản phẩm, xúc tiến, địa điểm ( hoặc phân phối) và xúc tiến marketing 4Ps này đueọc áp dụng trong việc bán các sản phẩm tiêu dùng và các sản phẩm dịch vụ ở mức độ thấp.1 Mô hình marketing - mix 4Ps ( Nguồn:inboundmarketing.vn) SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Trà My Năm 1981, dựa trên nghiên cứu của Mc Carthy ( 1960), Bernard Booms và Mary Bitner đã phát triển hỗn hợp tiếp thị truyền thống thành tiếp thị hỗn hợp mở rộng ( tiếp thị dịch vụ) với sự mở rộng thêm 3 thành phần: con người, quy trình vad bằng chứng vật lý.
Cách nhìn nhận này được đánh giá là có sự nhìn nhận một cách đầy đủ và hoàn chỉnh. Cách nhìn nhận này được đánh giá là có sự nhìn nhận một cách đầy đủ và hoàn chỉnh. Các nhân tố này ảnh huongr trực tiếp đến nhu cầu mua sắm, sự hài lòng của khách hàng, giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm hơn.2 Mô hình marketing - mix 7Ps ( Nguồn: webthuongmaidientu.com) Tóm lại chiến lƣợc marketing - mix là cách mà chủ doanh nghiệp xác định các phương thức, con đường và hướng phân bổ nguồn lực một cách hợp lý để sử dụng hiệu quả các công cụ tiếp thị nhằm đạt được mục tiêu marketing.1 Chính sách về sản phẩm (Product startegy) Khái niệm sản phẩm Sản phẩm là tất cả những gì có thể thõa mãn được nhu cầu hoặc mong muốn của con người và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua hay sử dụng. SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Trà My Ba cấp độ của sản phẩm - Cấp độ ý tưởng: Ở mức độ này, công ty phải trả lời được câu hỏi: về thực chất người mua sẽ mua cái gì? Nhà sản xuất không phải bán những thuộc tính của sản phẩm mà là bán những lợi ích mà nó đem lại. - Cấp độ thứ 2: Sản phẩm hiên thực bao gồm 5 đặc tính cơ bản: Chất lượng, các thuộc tính, bố cục đặc thù, tên nhãn hiệu và bao gói đặc thụ. - Cấp độ thứ 3: Sản phẩm dịch vụ, nhà nghiên cứu thị trường dự tính dành thêm những dịch vụ và lợi ích phụ cho sản phẩm và tất cả gộp lại thành sản phẩm hoàn chỉnh. Các dịch vụ cụ thể là: dịch vụ bao gói, đưa hàng đến tận nhà miễn phí, tư vấn miễn phí, tài trợ, sãn sàng đổi trả hàng sau 3 ngày,.Cấp độ thứ 3 này cho phép phân biệt sản phẩm của công ty này với sản phẩm của công ty khác ( Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2005).3: Mô hình 3 cấp độ sản phẩm ( Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2005) Nội dung các chiến lƣợc sản phẩm - Chất lượng: + Khái niệm chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là khả năng của sản phẩm trong việc thực hiện những chức năng mà người ta giao cho nó.
Chất lượng sản phẩm bao gôm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, độ sắc nét, tính đa dạng về công dụng, tính dễ vận hành, dễ sửa chữa, dịch vụ hoàn hảo. Mọi đối tượng khách hàng khi ra quyết định mua sản phẩm đều quan tâm đến chất lượng của sản phẩm. Chất lượng tốt chính là phương tiện quảng cáo hữu hiệu nhất cho doanh nghiệp mà không phải trả tiền ( Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2005). SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Trà My + Chính sách chất lượng sản phẩm Quyết định về chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp phải dược căn cứ như sau: Các công ty cản xác định chất lượng sản phẩm của mình từ góc độ của khách hàng chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của doanh nghiệp. Đối với khách hàng, họ cho rằng sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng tốt có nghĩa là đã đáp ứng và thỏa mãn được nhu cầu đặt ra của họ. Mức độ chất lượng mà công ty lựa chọn ít nhất phải ngang bằng với chất luợng sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh của mình. Điều này có thể thực hiện đuợc từ các kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường.