Chương 1: Tổng quan về nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển của Công ty Cổ phần DDV Logistics Việt Nam Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty giao nhận vận chuyển hàng hóa quốc tế 6 Chương 3: Thực trạng về nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển của Công ty Cổ phần DDV Logistics Việt Nam Chương 4: Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển của Công ty Cổ phần DDV Logistics Việt Nam 7 CHƢƠNG 2: CỞ SỞ LÍ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG XUẤT KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 2.1 Tổng quan chung về dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đƣờng biển 2.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển Trong hoạt động thương mại quốc tế, người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau. Sau khi ký kết hợp đồng thương mại, người bán sẽ thực hiện giao hàng cho người mua. Để hàng hóa được đến tay người mua, thì các công việc như: đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm thủ tục hải quan, xếp/dỡ hàng hóa, giao hàng cho người mua,. phải được thực hiện.
Những công việc này được gọi là nghiệp vụ giao nhận hàng hóa. Theo quy định tại điều 28 (Luật Thương mại Việt Nam, 2005) về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cụ thể như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Theo quy tắc mẫu về dịch vụ giao nhận vận tải của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế (FIATA) thì giao nhận vận tải được định nghīa như sau: “Giao nhận vận tải là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyên, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như cũng như các dịch vụ vận tải hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn để hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”. Theo Luật thương mại Việt Nam 2005 thì “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác”.
Nói chung, “Dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu quốc tế bằng đường biển là những dịch vụ thương mại có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng “người gửi hàng” ở quốc gia này đến nơi nhận 8 hàng “người nhận hàng” ở quốc gia khác, trong đó người giao nhận (freight forwarder) ký hợp đồng vận chuyển với chủ hàng, đồng thời cũng kí hợp đồng đối ứng với người vận tải để thực hiện dịch vụ. Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác. Phương tiện vận tải thường được sử dụng là tàu biển”.2 Đặc điểm của dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển Dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển nằm trong phạm vi là một dịch vụ giao hàng xuất nhập khẩu quốc tế nên những đặc điểm chung của dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế như: Tính vô hình Quá trình vận chuyển hàng hóa quốc tế làm hàng hóa có sự dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác. Sản phẩm của quá trình vận chuyển này có tính vô hình nghĩa là các chủ hàng, người sử dụng dịch vụ, không nhìn thấy, cân đong, đo đếm như đối với hàng hóa hữu hình.
Chỉ khi tiêu dùng rồi thì khách hàng mới có thể thấy được chất lượng của dịch vụ thông qua các tiêu thức như: thời gian vận chuyển nhanh hay chậm. có đúng lịch trình và an toàn không, thủ tục chứng từ có đúng quy cách, rõ ràng không. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ vận chuyển qua những thông tin họ thấy như địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin hay giá cả. Tính không lưu trữ Đặc điểm dễ nhận thấy của dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế là tính không lưu trữ.
Hoạt động vận chuyển chỉ có thể cung ứng khi xuất hiện nhu cầu của khách hàng nên người vận tải không có khả năng sản xuất hàng loạt dịch vụ vận chuyển. Dịch vụ vận chuyển cung ứng ra bao nhiêu thì được sử dụng hết bấy nhiêu, nên nó không có khả năng tồn kho. Chính điều này tạo nên sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu vào những thời điểm khác nhau, phụ thuộc vào mùa vụ và chu kỳ kinh doanh của khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa Tính không sở hữu Khi dịch vụ vận chuyển được thực hiện, với các công việc như vận chuyển, bảo quản, bốc xếp hàng hóa, khách hàng chỉ nhận được kết quả là hàng hóa được di chuyển đến đích, chứ không được chuyển giao quyền sở hữu với phương tiện vận 9 tải, công cụ vận tội như tàu biển, máy bay. Tương tự, hàng hóa được chủ hàng giao cho người vận chuyển tuy nhiên quyền sở hữu hàng hóa lại không được chuyển giao trong hợp đồng vận chuyển.
Người vận chuyển thay mặt người chủ hàng để di chuyển hàng hóa đến giao cho người nhận hàng. Tính không thể chia cắt – sản xuất đi đôi tiêu thụ Tính không thể chia cắt (đồng nhất) thể hiện sự đồng thời cả về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ vận chuyển. Ví dụ: khi khách hàng thuê một người vận chuyển để đưa hàng hóa từ nơi này sang nơi khác thì khi hàng hóa được vận chuyển là lúc người vận chuyển đang cung cấp dịch vụ vận chuyển và khách hàng đang tiêu dùng dịch vụ vận chuyển được cung cấp. Sự đồng nhất về không gian và thời gian cung cấp dịch vụ được thể hiện ngay từ đầu quá trình cung cấp dịch vụ: người vận chuyển cho nhân viên tới nơi khách hàng yêu cầu và bốc xếp hàng hóa lên phương tiện, vận chuyển hàng hóa đến nơi được yêu cầu và dỡ hàng hóa.
Do không thể sản xuất hàng loạt, sản xuất trước nên người vận chuyển cần có kế hoạch, dữ trữ phương tiện, nhiên liệu và dự báo được nhu cầu của khách hàng. Tính thay đổi Tính thay đổi (không xác định, không đồng nhất, dị chủng) của dịch vụ vận chuyển thể hiện ở việc dịch vụ vận tải không giống nhau giữa các lần sử dụng dịch vụ, dù là cùng một nhân viên vận chuyển, cùng một nhà cung cấp hay một loại dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ vận tải không bao giờ lặp lại do nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, trình độ của nhân viên, tâm lý, trình độ cảm nhận của khách hàng. Tính thích ứng Do đặc điểm của sản phẩm vận tải là không có sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm như các loại hàng hóa hữu hình nên dịch vụ vận tải luôn thích ứng với các yêu cầu thay đổi của người thuê.
Ví dụ khi sử dụng dịch vụ tàu chợ, khách hàng có thể gửi hàng đến bất kỳ cảng nào nằm trong hành trình chuyên chở của tàu.3 Vai trò của dịch vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển - Với doanh nghiệp XNK: + Hiện nay, thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển, mở ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Ngày càng có nhiều hợp đồng 10 mua bán ngoại thương được ký kết khiến cho số lượng hàng hóa quốc tế tăng lên nhanh chóng. Công tác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là một khâu rất cần thiết trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. + Thương mại quốc tế và toàn cầu hóa càng phát triển, vai trò của giao nhận ngày càng quan trọng và được thể hiện rõ ràng hơn, cụ thể: Giao nhận tạo điều kiện để hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phi mà không cần có sự tham gia của người gửi và người nhận tác nghiệp.
Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải, tận dụng tối đa và sử dụng hiệu quả các phương tiện vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác. Giao nhận giúp giảm giá thành các hàng hóa xuất nhập khẩu do giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bởi chi phí như: chi phí đi lại, chi phí đào tạo nhân công. - Đối với nền kinh tế: + Dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ này có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường biển nối liền các quốc gia, đảm bảo đúng thời gian và địa điểm.
Tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, đẩy nhanh tốc độ xoay vòng cũng như mang lại hiệu quả sử dụng cho các phương tiện vận tải và các phương tiện hỗ trợ khác. + Ngành giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển còn giúp giải quyết các vấn đề về khối lượng hàng hóa khổng lồ, là phương thức cung cấp nguyên liệu chính cho các ngành sản xuất, cũng như nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước. Đây là loại hình dịch vụ giúp thúc đẩy phát triển sản xuất của nhiều ngành kinh tế quốc gia. Không những vậy, giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển còn mang lại nguồn thu rất lớn cho Ngân sách nhà nước.
+ Bên cạnh đó, giao nhận hàng hóa xuất khẩu bằng đường biển đã và đang mở ra nhiều cơ hội việc làm trong thời gian gần đây, từ đó đưa ngành vận tải trở thành yếu tố quan trọng trong việc giải quyết hiệu quả tình trạng đói nghèo, thất nghiệp. Góp phần tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận. Đây cũng là phương thức góp phần thúc đẩy các mối quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường.