Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách cải cách hành chính - Chính sách: Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về chính sách theo tác giả James Anderson cho rằng: Chính sách là một quá trình hành động có mục tiêu theo đuổi bởi một hay nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm.
Tác giả Hồ Sỹ Sơn cho rằng: Chính sách là quyết định mang tính quan điểm, tư tưởng của chủ trương được trao quyền lực nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề những vấn đề vì lợi ích của cộng đồng.[21] Từ điển bách khoa Việt Nam đã khái niệm: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Tác giả Nguyễn Hữu Hải cho rằng: Chính sách là những là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục đích nhất định. [20] Như vậy có thể hiểu chính sách là chương trình hành động do nhà nước đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc thẩm quyền mình quản lý.
- Chính sách công Theo Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công 2006: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh 9 Luan van trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [15, tr. Theo Giáo trình Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính 2014, “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, phù hợp với thái độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội trong mỗi thời kỳ” [10, tr.TS Nguyễn Hữu Hải, “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển ổn định và bền vững”.[6, tr167] Các quan điểm trên đều đứng ở những góc độ khác nhau để nghiên cứu chính sách công nhưng giống nhau ở chỗ đều xác định chính sách công là sản phẩm có mục đích của nhà nước. Như vậy, khó thể hiểu khái quát: Chính sách công là chương trình hành động của nhà nước để giải quyết các vấn đề có tính cộng đồng, phù hợp với thái độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội trong mỗi thời kỳ. Chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: Do các cơ quan nhà nước ban hành vì thế người ta thường hiểu chính sách công là chính sách của nhà nước; là một dạng biểu hiện cụ thể của quyết sách chính trị của đảng cầm quyền qua đó thể hiện ý chí của nhà nước đối với một lĩnh vực nào đó của xã hội; nội dung của chính sách công không chỉ bao gồm dự định của chủ thể hoạch định chính sách mà còn bao gồm hoạt động để thực hiện các dự định đó; chính sách công bao gồm nhiều quyết định do một hay nhiều cấp cùng ban hành, được thực hiện trong thời gian tương đối dài và được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn cụ thể; nội dung của chính sách công luôn chịu tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan.
10 Luan van Chu trình chính sách (Policy Process) (hay qui trình chính sách) được hiểu là quá trình luân chuyển các giai đoạn từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội. Chính sách công có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước và trong đời sống xã hội, vai trò đó được thể hiện qua các mặt sau: Là cơ sở định hướng, tạo lập môi trường và điều chỉnh các hoạt động cho các chủ thể trong xã hội; hỗ trợ và tạo động lực cho các chủ thể trong xã hội phát triển theo định hướng; đảm bảo phân phối nguồn lực một các hài hòa cho quá trình phát triển; thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành trong quản lý nhà nước. Khái niệm cải cách TTHC Cải cách: là những thay đổi có tính hệ thống và có mục đích nhằm làm cho một hệ thống hoạt động tốt hơn. Điều đó, làm phân biệt cải cách với những hoạt động khác cũng chỉ sự biến đổi như sáng kiến, thay đổi… Cải cách hành chính: Được hiểu là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và có mục đích nhằm làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội của mình.
Như vậy, cải cách hành chính nhằm thay đổi và làm hợp lý hóa bộ máy hành chính, với mục đích tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Cải cách hành chính nhà nước: Là một trong những nội dung quan trọng của khoa học hành chính, có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao. Mọi hoạt động cải cách hành chính nhà nước đều hướng tới việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý cụ thể của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển. Cải cách thủ tục hành chính là cải cách các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, người 11 Luan van có thẩm quyền; cải cách các quy định về các loại thủ tục hành chính; cải cách việc thực hiện các thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường, củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân. Ở Việt Nam, cải cách hành chính nhà nước có thể xem là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới, là trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm các thay đổi có chủ đích và lâu dài nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước để đáp ứng những đòi hỏi của tiến trình mới. Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 gồm có sáu nội dung chính: Cải cách thể chế, cải cách TTHC, cải cách bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa hành chính. Khái niệm chính sách cải cách thủ tục hành chính, thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính.
Chính sách cải cách TTHC là một dạng chính sách công, vì vậy chính sách này có đầy đủ đặc trưng cơ bản của một chính sách công. Theo đó, chính sách cải cách TTHC được hiểu là hệ thống các văn bản quy định của Đảng, Nhà nước để khắc phục những hạn chế của hệ thống thủ tục hiện hành theo hướng đơn giản hóa, minh bạch hóa, công khai hóa, tạo ra sự chuyển biến căn bản trong quan hệ giải quyết công việc giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân góp phần tăng cường hiệu lực, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước. Theo tác giả Nguyễn Khắc Bình định nghĩa thực hiện chính sách công là quá trình vận động, thực hiện ý trí của Nhà nước trong chính sách thành hiện 12 Luan van thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng. Như vậy, có thể hiểu thực hiện chính sách cải cách TTHC là quá trình vận động, thực hiện ý chí của Nhà nước trong chính sách về cải cách TTHC thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp với các tổ chức, cá nhân nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, đảm bảo công bằng và hài hòa lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.
Đặc điểm của thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính Một là, chính sách cải cách TTHC là hệ thống các văn bản do pháp luật quy định. Chính sách cải cách TTHC là những hàng động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân được thể hiện qua các TTHC nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Nếu một hoạt động mà luật pháp không quy định cần những TTHC nhất định thì các nhà quản lý nhà nước không được tự đặt ra thủ tục. Chính sách cải cách TTHC là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là những hành vi chuẩn mực cho mọi công dân, cán bộ, công chức nhà nước tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước.
Chính sách cải cách TTHC là giải quyết các công việc liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức nếu không được pháp luật quy định đầy đủ và chặt chẽ thì rất khó trong việc ngăn ngừa khả năng xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Hai là, tính chất phức tạp của chính sách cải cách TTHC. Chính sách cải cách TTHC liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tượng chịu tác động và có mối quan hệ với các yếu tố khác của nền hành chính nhà nước như thiết chế hành chính, đội ngũ cán bộ công chức, tài chính công nên tính chất của chính sách cải cách TTHC phức tạp 13 Luan van hơn các chính sách khác rất nhiều. Điều đó cho thấy quá trình thực thi chính sách này sẽ gặp không ít khó khăn, trở ngại nếu như các bên thiếu sự thống nhất chung, thiếu sự phối hợp trong quá trình triển khai.
Ba là, chính sách cải cách TTHC diễn ra theo trật tự các bước nhất định, là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước: Lĩnh vực chấp hành, điều hành. Nghĩa là TTHC được phân biệt với thủ tục tư pháp, thủ tục tố tụng tại tòa án. Các chính sách cải cách TTHC được ban hành trong các văn bản luật và dưới luật, do đó có tính pháp quy rất cao.