Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ giữ vai trò động lực then chốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Giai đoạn 2001 - 2007, khu vực này đóng góp ổn định xấp xỉ 29,69% đến 31,64% GDP cả nước, đạt giá trị 340,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2007. Đồng thời, khu vực kinh tế này giải quyết việc làm cho hơn 5,58 triệu lao động, đóng góp bình quân 250.000 đến 300.000 việc làm mới mỗi năm.

Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế giai đoạn 1990 - 2008 chủ yếu được thiết kế hướng tới khu vực doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, dẫn đến sự bất cập khi áp dụng cơ chế thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp lên các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ. Tình trạng kinh tế ngầm chiếm hơn 50% GDP chính thức cùng tỷ lệ trên 65% hộ kinh doanh chưa thực hiện đăng ký kinh doanh đã tạo ra rủi ro thất thu ngân sách lớn và làm suy giảm tính công bằng tài khóa.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận kinh tế chính trị về thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ; phân tích thực trạng các sắc thuế tác động trực tiếp và mô hình quản lý thu tại Chi cục Thuế; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cải cách toàn diện chính sách thuế và quản trị thuế đến năm 2015. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2008, tập trung vào bốn sắc thuế chủ chốt: thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và lộ trình áp dụng thuế thu nhập cá nhân từ năm 2009. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hỗ trợ mục tiêu phát triển 500.000 doanh nghiệp vào năm 2010 và nâng cao năng lực huy động thu ngân sách nhà nước đạt 20% - 21% GDP.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp các quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội X về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Ba khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm:

  • Kinh tế cá thể: Hình thức kinh tế dựa trên sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và hoàn toàn sử dụng sức lao động của bản thân cùng các thành viên gia đình.
  • Kinh tế tiểu chủ: Hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, có thuê mướn lao động ngoài gia đình nhưng nguồn thu nhập căn bản vẫn bắt nguồn từ lao động và vốn tự có của chủ hộ.
  • Chính sách thuế đối với hộ kinh doanh: Hệ thống công cụ pháp lý, định mức điều tiết và quy trình nghiệp vụ thu nhằm giải quyết mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các hộ kinh doanh cá thể, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu động viên nguồn thu và mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu.

Khung phân tích tích hợp lý thuyết tài chính công hiện đại về hai chức năng cơ bản của thuế: chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước và chức năng điều tiết, phân bổ nguồn lực kinh tế vĩ mô nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Nghiên cứu đồng thời tham chiếu lý thuyết quản lý thuế hiện đại thông qua bài học kinh nghiệm từ ba mô hình quốc tế: chế độ kê khai sổ sách tự nguyện "mẫu màu xanh" với hơn 50% đối tượng tuân thủ tại Nhật Bản; biểu thuế suất chuẩn 16% đơn giản tại Hồng Kông; và chiến lược cải cách thuế giá trị gia tăng áp dụng đồng bộ từ năm 1994, hiện đại hóa năm 2002 của Trung Quốc đối với 24,386 triệu hộ công thương cá thể.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính chuyên sâu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính trong giai đoạn 1990 - 2007.

Cỡ mẫu khảo sát bao quát trên 3 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp trên phạm vi 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kết hợp số liệu từ các cuộc điều tra doanh nghiệp và hộ kinh doanh định kỳ của Tổng cục Thống kê. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo nhóm ngành nghề (thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp) và theo địa bàn hành chính (đô thị và nông thôn) được áp dụng nhằm phản ánh chính xác cấu trúc kinh tế phân tán.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích lịch sử - cụ thể kết hợp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu là nhằm làm rõ sự biến động của tỷ trọng đóng góp GDP (từ 153,2 nghìn tỷ đồng năm 2001 lên 340,7 nghìn tỷ đồng năm 2007), qua đó đánh giá tác động của từng giai đoạn cải cách chính sách thuế (giai đoạn 1990 - 1995, giai đoạn 1996 - 2004 và giai đoạn từ năm 2005 trở đi) tới hiệu quả hành chính công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về thực trạng chính sách thuế đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ tại Việt Nam:

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               ĐÓNG GÓP VÀ THỰC TRẠNG KHU VỰC KINH TẾ CÁ THỂ (2001 - 2007)          |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------+
| Chỉ tiêu kinh tế                  | Giá trị thực tế                               |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------+
| Tỷ trọng đóng góp GDP             | Duy trì ổn định 29,69% - 31,64% GDP           |
| Giá trị đóng góp GDP năm 2007     | 340,7 nghìn tỷ đồng (trong tổng 1.144 nghìn tỷ)|
| Lực lượng lao động thu hút        | Hơn 5,58 triệu người (năm 2005)               |
| Quy mô vốn bình quân/cơ sở        | 43,7 triệu đồng vốn, 31,1 triệu đồng TSCĐ     |
| Lao động bình quân/cơ sở          | 1,7 lao động (92% chưa qua đào tạo)           |
| Tỷ lệ đăng ký kinh doanh chính thức| ~35% tổng số hơn 3 triệu hộ cá thể            |
| Mức tăng thu thuế CTN-NQD         | Tăng 57,2% năm 2004 so với năm 1999           |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------+

Thứ nhất, tồn tại sự tương phản sâu sắc giữa quy mô đóng góp kinh tế vĩ mô và mức độ hoàn thiện thể chế tài chính. Khu vực hộ cá thể tạo ra 29,78% GDP năm 2007 và thu hút 5,58 triệu lao động, gấp 2,5 lần khu vực kinh tế nhà nước (2,2 triệu lao động) và gấp 6,2 lần khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (0,9 triệu lao động). Mặc dù số thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 57,2% vào năm 2004 so với mức 3.700 tỷ đồng của năm 1999, mức động viên này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.

Thứ hai, mức độ phi chính thức hóa cao và thất thu thuế diện rộng. Hơn 65% hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh chính thức, kết hợp với thực trạng quy mô vốn bình quân chỉ đạt 43,7 triệu đồng/cơ sở và 1,7 lao động/hộ. Tỷ lệ kinh tế ngầm gia tăng từ 30% năm 1997 lên 51% năm 2001 khiến công tác quản lý thuế lâm vào thế bị động.

Thứ ba, sự bất tương thích của các sắc thuế hiện hành. Việc bắt buộc các hộ cá thể áp dụng Luật thuế Giá trị gia tăng và Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp tạo nên sự khiên cưỡng. Do hơn 92% lao động hộ cá thể chưa qua đào tạo và không thực hiện chế độ kế toán, việc xác định doanh thu và chi phí hợp lý bị biến tướng thành cơ chế thuế khoán thỏa thuận, phát sinh tiêu cực hành chính.

Thứ tư, bước ngoặt chuyển dịch thể chế từ ngày 01/01/2009 khi Luật thuế Thu nhập cá nhân có hiệu lực. Việc chuyển đổi nghĩa vụ từ thuế thu nhập doanh nghiệp sang thuế thu nhập cá nhân đối với hộ cá thể là bước tiến tiệm cận thông lệ quốc tế, nhưng đối mặt với rào cản từ tập quán thanh toán dùng tiền mặt và các quy định giảm trừ gia cảnh phức tạp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những bất cập bắt nguồn từ tâm lý e ngại chi phí tuân thủ pháp luật khi chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải phát sinh chi phí đăng ký, thuê kế toán trưởng có chứng chỉ và chịu sự thanh tra nghiêm ngặt, trong khi chính sách thuế chưa tạo lập được khoảng đệm ưu đãi đủ hấp dẫn. Số liệu cho thấy chỉ khoảng 25% doanh nghiệp thành lập mới hàng năm có xuất phát điểm từ hộ kinh doanh cá thể.

So sánh cơ cấu lao động giữa các thành phần kinh tế năm 2005:
- Hộ kinh doanh cá thể:    [██████████████████████████████] 5,58 triệu lao động
- Doanh nghiệp Nhà nước:   [████████████] 2,20 triệu lao động
- Doanh nghiệp NQD:        [██████████] 2,00 triệu lao động
- Khu vực FDI:             [█████] 0,90 triệu lao động

Sự thiếu vắng một tổ chức đại diện pháp lý độc lập bảo vệ quyền lợi cho các hộ cá thể làm gia tăng tính tổn thương của khu vực này trước sự sách nhiễu hành chính. So sánh với kinh nghiệm quản lý của Nhật Bản và Trung Quốc, điểm nghẽn của Việt Nam nằm ở việc thiếu vắng hệ thống hóa đơn bán lẻ đơn giản và chế độ kế toán một cuốn sổ dành riêng cho các thực thể siêu nhỏ. Do đó, việc hiện đại hóa công tác quản lý thuế tại cấp Chi cục là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy khu vực này hội nhập chính thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn, bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất nhằm cải cách chính sách và quản lý thuế đối với khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ:

LỘ TRÌNH THỰC THI GIẢI PHÁP CẢI CÁCH THUẾ ĐẾN NĂM 2015
  1. Đơn giản hóa phương pháp và quy trình tính thuế:

    • Hành động: Bộ Tài chính cần ban hành quy chế tính thuế trên doanh thu thực tế đơn giản, bãi bỏ các bước tính toán phức tạp đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân của hộ khoán.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Giảm 40% thời gian thực hiện thủ tục kê khai thuế của hộ cá thể; nâng tỷ lệ hộ kinh doanh có đăng ký mã số thuế chính thức từ 35% lên 70% vào năm 2012.
    • Chủ thể thực hiện: Tổng cục Thuế chủ trì phối hợp với UBND các quận, huyện.
  2. Ban hành chế độ kế toán đơn giản hóa và cơ chế hóa đơn đặc thù:

    • Hành động: Thiết kế chế độ sổ sách kế toán một cuốn (ghi nhận thu - chi tối giản) phù hợp với trình độ của 92% lao động chưa qua đào tạo; cung cấp hóa đơn bán lẻ điện tử tiện lợi.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Đạt 50% số hộ kinh doanh quy mô vừa và lớn áp dụng chế độ tự kê khai theo mô hình tương đương "mẫu màu xanh" của Nhật Bản vào năm 2015.
    • Chủ thể thực hiện: Cục Quản lý và Giám sát Kế toán, Kiểm toán - Bộ Tài chính.
  3. Hiện đại hóa mô hình quản lý và tổ chức bộ máy Chi cục Thuế:

    • Hành động: Tái cấu trúc các Chi cục Thuế quận, huyện theo mô hình quản lý chức năng (kê khai, kế toán thuế, thanh tra kiểm tra, tuyên truyền hỗ trợ), tách rời việc tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ thuế và hộ kinh doanh để ngăn chặn tiêu cực; đẩy mạnh ủy nhiệm thu qua ngân hàng và bưu cục.
    • Chủ thể thực hiện: Tổng cục Thuế và Cục Thuế các tỉnh, thành phố.
  4. Xây dựng chính sách khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp:

    • Hành động: Áp dụng chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu tiên cho các hộ cá thể chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc doanh nghiệp tư nhân; hỗ trợ chi phí pháp lý và phần mềm kế toán ban đầu.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Đóng góp trực tiếp vào mục tiêu hình thành 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả của cả nước.
    • Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Bộ Tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn cho bốn nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý thuế và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế: Cung cấp cơ sở lý luận kinh tế chính trị và các gợi mở chính sách để soạn thảo văn bản dưới luật hướng dẫn Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2009, cải cách quy trình quản lý thuế khoán và tái cơ cấu bộ máy Chi cục Thuế cấp huyện.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Tài chính - Ngân hàng: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về sự vận động của thành phần kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ, cung cấp hệ thống số liệu toàn diện về kinh tế cá thể giai đoạn 1990 - 2008 phục vụ các nghiên cứu mở rộng.
  • Chủ hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ và các doanh nhân khởi nghiệp: Giúp nắm bắt sâu sắc quyền lợi, nghĩa vụ tài khóa, hiểu rõ lộ trình chuyển đổi nghĩa vụ thuế từ thuế thu nhập doanh nghiệp sang thuế thu nhập cá nhân, từ đó chủ động chuẩn bị năng lực quản trị để chuyển đổi thành doanh nghiệp.
  • Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (VINASME), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Nền tảng tư liệu thực tế phục vụ công tác phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho cộng đồng tiểu thương và thúc đẩy cải thiện chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Câu hỏi thường gặp

Kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ có sự khác biệt bản chất như thế nào?

Kinh tế cá thể hoàn toàn dựa trên tư hữu nhỏ và sử dụng sức lao động của chính bản thân chủ hộ cùng gia đình, không thuê mướn lao động bên ngoài. Ngược lại, kinh tế tiểu chủ có thuê mướn lao động ngoài gia đình, tuy nhiên thu nhập và nguồn lực chủ đạo vẫn dựa trên sức lao động và tư liệu sản xuất của gia đình chủ hộ.

Tại sao việc áp dụng Luật thuế GTGT và TNDN trước năm 2009 lại bất cập với hộ cá thể?

Luật thuế GTGT và TNDN đòi hỏi cơ sở kinh doanh phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp và hệ thống sổ sách kế toán hoàn chỉnh. Với đặc thù quy mô vốn chỉ 43,7 triệu đồng/cơ sở và 92% lao động chưa qua đào tạo, đa phần hộ cá thể không thể đáp ứng, dẫn đến việc cơ quan thuế phải áp dụng thuế khoán mang tính ước đoán chủ quan.

Hiện tượng kinh tế ngầm ảnh hưởng như thế nào đến công tác quản lý thuế?

Kinh tế ngầm tại Việt Nam ước tính chiếm hơn 50% GDP chính thức, với hơn 65% hộ kinh doanh không đăng ký kinh doanh. Tình trạng này gây thất thu nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước, bóp méo môi trường cạnh tranh lành mạnh và hạn chế cơ hội tiếp cận vốn tín dụng chính thức của các cơ sở kinh doanh.

Việt Nam có thể học tập được kinh nghiệm gì từ mô hình thuế của Nhật Bản?

Việt Nam có thể áp dụng cơ chế kê khai thuế theo "mẫu màu xanh" của Nhật Bản. Chế độ này khuyến khích hộ kinh doanh tự nguyện ghi chép sổ sách kế toán đơn giản để được hưởng quyền khấu trừ chi phí hợp lý và các ưu đãi về thuế, giúp Nhật Bản nâng tỷ lệ người tự giác kê khai thuế từ 20% lên hơn 50%.

Lợi ích căn bản nhất khi một hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp là gì?

Khi thành lập doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được xuất hóa đơn GTGT khấu trừ, thuận lợi tiếp cận thị trường xuất khẩu, vay vốn ngân hàng và phát hành cổ phần huy động vốn. Đồng thời, doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ quyền bình đẳng kinh doanh và mở rộng mạng lưới chi nhánh không giới hạn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế chính trị về vị trí, vai trò của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn sinh động giai đoạn 2001 - 2007: khu vực cá thể đóng góp xấp xỉ 29,78% GDP và tạo ra 5,58 triệu việc làm, khẳng định vai trò là nguồn nội lực kinh tế to lớn.
  • Chỉ rõ những lỗ hổng thể chế trong giai đoạn cải cách thuế bước 1 và bước 2: cơ chế thuế khoán tồn tại nhiều kẽ hở, tỷ lệ đăng ký kinh doanh thấp (35%) và sự bất tương thích của các luật thuế doanh nghiệp đối với hộ gia đình.
  • Đề xuất lộ trình cải cách hệ thống chính sách thuế đồng bộ đến năm 2015, trọng tâm là đơn giản hóa biểu thuế thu nhập cá nhân từ 2009, thiết lập chế độ kế toán tối giản và hiện đại hóa bộ máy Chi cục Thuế theo cơ chế tự khai - tự nộp.
  • Cung cấp luận cứ vững chắc khuyến khích các hộ cá thể quy mô lớn nâng cấp thành doanh nghiệp chính thức, đóng góp hiện thực hóa mục tiêu 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả của quốc gia.

Các nhà quản lý chính sách, cán bộ ngành thuế và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác toàn diện các phát hiện nghiên cứu này để tối ưu hóa quy trình quản trị tài khóa và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng.