Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI KINH TẾ CÁ THỂ, TIỂU CHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề cơ bản về chính sách thuế đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Kinh tế cá thể, tiểu chủ trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Quan niệm về kinh tế cá thể, tiểu chủ.
Trong sự phân định các thành phần kinh tế thời kỳ quá độ, theo V.I Lê Nin không có khái niệm “kinh tế cá thể, tiểu chủ” mà được ông sử dụng bằng khái niệm “kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ”. Khái niệm kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ ở Việt Nam trong thời kỳ cải tạo XHCN ở miền Bắc từ năm 1958, ở miền Nam sau năm 1975 được sử dụng để chỉ loại hình kinh tế của những người nông dân, thợ thủ công, những người làm thương nghiệp nhỏ. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) Đảng ta vẫn sử dụng thuật ngữ „ kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa“ để chỉ bộ phận kinh doanh nhỏ ở quy mô gia đình. Đại hội VII (năm 1991) thì thuật ngữ kinh tế cá thể đã được sử dụng, coi đó là một thành phần của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Song lúc bấy giờ thuật ngữ kinh tế „tiểu chủ“ chưa được sử dụng gắn với kinh tế cá thể để 12 cùng hàm ý nói về bộ phận kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ. Chỉ đến Đại hội lần thứ VIII (năm 1996) thuật ngữ „Kinh tế cá thể, tiểu chủ“ mới chính thức được sử dụng coi như là một thành phần trong cơ cấu 5 thành phần mà Đại hội VIII xác định. Đại hội IX (năm 2001) xác định cơ cấu kinh tế bao gồm 6 thành phần thì trong đó kinh tế cá thể, tiểu chủ vẫn được coi là một thành. Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006) bộ phận kinh tế cá thể, tiểu chủ vẫn được khẳng định vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ, song ở Đại hội lần này, kinh tế cá thể, tiểu chủ chỉ được xem là một bộ phần cấu thành của thành phần kinh tế tư nhân.
Xét về bản chất, kinh tế cá thể, tiểu chủ là kinh tế tư nhân nhưng là kinh tế tư nhân dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và vốn kinh doanh. Sách giáo khoa Kinh tế chính trị Mác – Lê Nin (Dùng cho khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh trong các trường Đại học và Cao đẳng) xuất bản năm 2005 đã giải thích sự khác biệt giữa kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ như sau: Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình. Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên, thu nhập chủ yếu vẫn sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Từ lịch sử hình thành và các quan niệm đã nêu trên, theo tác giả, có thể diễn đạt một các khái quát về kinh tế cá thể, tiểu chủ như sau: Kinh tế cá thể, tiểu chủ là một bộ phận cấu thành của thành phần kinh tế tư nhân, dựa trên quan hệ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và vốn kinh doanh, tồn tại phổ biến dưới hình thức các hộ kinh doanh trên quy mô gia đình.
Xét về quy mô, ở Việt Nam hiện nay, kinh tế cá thể, tiểu chủ được xếp vào loại hình kinh doanh nhỏ. Đặc điểm của kinh tế cá thể, tiểu chủ 13 - Kinh tế cá thể, tiểu chủ là loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh mang tính chất gia đình chứa đựng những khả năng lớn của sáng kiến cá nhân. ở đây, nguyên tắc kinh doanh, theo đuổi mục tiêu doanh lợi kết hợp hài hòa với các giá trị gia đình. Những thành viên trong hộ gắn bó với nhau bằng quan hệ ruột thịt, nên có tính cộng đồng, trách nhiệm cao dễ thống nhất.
Ngoài các hoạt động sản xuất, kinh doanh, chủ hộ còn quan tâm đến việc học hành, giáo dục truyền thống, đạo đức, pháp luật cho các thành viên để hướng tới sự thành đạt. - Về quan hệ sản xuất: Mặc dù dựa trên quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và vốn kinh doanh, nhưng vì là tư hữu nhỏ trên quy mô gia đình nên quan hệ quản lý trong các hộ kinh doanh cá thể và tiểu chủ là trực tuyến, bỏ qua các khâu trung gian, nên rất chặt chẽ, hiệu quả. Chất lượng sản phẩm, thương hiệu hàng hóa được quan tâm đầu tiên, bởi nó tạo nên chữ tín của gia đình. Sau khi hoàn thành các nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước, quan hệ phân phối thu nhập giữa những người lao động trong hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận về lợi ích kinh tế, mang tính chất như là phân phối lợi ích trong gia đình, vì vậy gần như không tồn tại mâu thuẫn giữa chủ và người lao động.
Ngay cả đối với các hộ tiểu chủ, mặc dù có tuyển thêm lao động ngoài gia đình, nhưng về cơ bản cả chủ và người lao động làm việc cùng nhau, từ chia sẻ công việc đến chia sẻ về lợi ích, nên về cơ bản về cơ bản không tồn tại quan hệ bóc lột trong phân phối thu nhập. - Mọi tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề, bí quyết, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh. được tích lũy qua nhiều đời. Đây là tiềm năng" chất xám" quan trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ được phát huy.
- Quy mô của kinh tế cá thể, tiểu chủ vừa và nhỏ nên dễ tổ chức sản xuất, kinh doanh, ít tốn kém, dễ thích nghi. Nó có khả năng huy động mọi nguồn lực phân tán như vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹ thuật. kết hợp lại với nhau, qua đó giải quyết việc làm cho đông đảo 14 người lao động, tăng thu nhập, tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ hội cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất và hưởng thụ các thành quả tăng trưởng nền kinh tế. Vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ đối với sự phát triển của kinh tế thị trường.
Khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển cả về số hộ và quy mô, ngành nghề kinh doanh, nhiều hộ phát triển thành các doanh nghiệp. Sự phát triển kinh doanh khu vực ngoài quốc doanh nói chung, hộ kinh doanh nói riêng đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và đang trở thành một lực lượng kinh tế quan trọng thể hiện qua những vai trò chủ yếu sau: - Kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Số liệu thu thập được cho thấy, liên tục từ năm 2001 đến 2007 nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP ổn định ở mức khá, trung bình khoảng 7,5%/năm, trong đó tỷ trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ trong GDP được duy trì tương đối ổn định, khoảng gần 30% GDP. Điều này thể hiện đóng góp của kinh tế cá thể, tiểu chủ vào tăng trưởng kinh tế.
Các số liệu trong bảng dưới đây sẽ cho thấy rõ điều đó. Đóng góp của kinh tế cá thể vào GDP (Số liệu đ−ợc điều chỉnh theo kết quả điều tra doanh nghiệp vμ lộ trình cổ phần hoá Data will be revised according to results of the enterprise survey and route of equitization.) Nghìn tỷ đồng - Trill. dongs Chỉ tiêu 2001 % 2005 % 2006 % 2007 % Tổng số - Total 481,3 100% 839,2 100% 974,3 100% 1144,0 100% Khu vực có 66,2 13,76 134,2 15,99 166,2 17,05 198,8 17,38 vốn đầu t− n−ớc ngoμi Kinh tế Nhμ 184,8 38,40 322,2 38,40 363,4 37,30 417,8 36,52 15 n−ớc Kinh tế NQD 230,3 47,84 382,8 45,61 444,7 45,65 527,4 46,10 Kinh tế Tập thể 38,8 6,06 57,2 6,81 64,4 6,61 70,8 6,19 Collective Kinh tế T− bản 38,3 7,94 74,6 8,89 91,1 9,35 115,9 10,13 tư nhõn Private Kinh tế Cá thể, 153,2 31,64 251,0 29,91 289,2 29,69 340,7 29,78 tiểu chủ Household - Kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển góp phần quan trọng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Tính đến thời điểm năm 2005, khu vực hộ cá thể công thương nghiệp và dịch vụ đã thu hút khoảng trên 5 triệu lao động, bình quân mỗi năm thu hút tăng thêm từ 250 đến 300 ngàn người.
Nếu so sánh với khu vực kinh tế nhà nước thu hút khoảng 2,2 triệu lao động, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút khoảng 0,9 triệu lao động và khu vực doanh nghiệp NQD thu hút khoảng 2 triệu lao động thì số lượng lao động của khu vực hộ cá thể là đáng kể. - Kinh tế cá thế, tiểu chủ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ phát triển tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, số thu của khu vực hộ cá thể kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng qua các năm tăng năm 1999 số thu là 3.700 tỷ đồng; năm 2001 tăng 7,5 % so với năm 1999; năm 2003 tăng 38,5% so với năm 1999; năm 2004 số thu tăng 57,2% so với năm 1999. - Kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ phát triển góp phần tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh trật tự xã hội… - Ngoài ra kinh tế cá thể, tiểu chủ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ phát triển còn góp phần thực hiện thành công mục tiêu kinh tế xã hội khác của Đảng và Nhà nước đề ra, trong đó có những mặt đóng vai trò tương đối quan trọng như chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo, xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, củng cố an ninh, quốc phòng, khôi phục và phát triển nhiều ngành nghề truyền thống. 16 Trong những năm tới tiếp tục thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khu vực kinh tế hộ sẽ tăng mạnh, dự kiến đến năm 2010 có khoảng trên 3 triệu hộ kinh doanh, thu hút khoảng 7 triệu lao động và đóng góp khoảng 10% GDP cả nước.
Số thu từ khu vực hộ cá thể cũng sẽ tăng mạnh, khả năng đến năm 2010 lên tới 20.