chương 1, luận văn luận giải về bối cảnh xã hội, thời đại thúc đẩy nhu cầu hiện đại hóa văn học và sự ra đời của Chủ nghĩa hiện đại trong văn học phương Tây đầu thế kỷ XX. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng luận giải về khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành của tiểu thuyết tâm lí, quá trình cách 15 tân tiểu thuyết tâm lí của Woolf, quan điểm sáng tác, tư duy nghệ thuật riêng biệt dẫn đến V.Woolf nhanh chóng trở thành cây bút tiên phong, đạt đến đỉnh cao của tiểu thuyết tâm lí hiện đại. Ở chương 2 và 3, luận văn tiến hành khảo sát những đặc điểm, khám phá, sáng tạo của V. Woolf về tư tưởng và nghệ thuật tiểu thuyết tâm lý.
Từ đó, làm rõ được điểm chung và đặc biệt là những điểm độc đáo, sáng tạo trong sáng tác của V. Woolf so với các nhà văn thế kỷ XIX. Phần kết luận khái quát lại những nội dung chính của luận văn cũng như đề xuất hướng nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn còn có mục tài liệu tham khảo nhằm trích dẫn nguồn tài liệu luận văn tham khảo trong và ngoài nước.
WOOLF TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT TÂM LÍ HIỆN ĐẠI 1. Chủ nghĩa hiện đại trong văn học phương Tây đầu thế kỷ XX 1. Bối cảnh xã hội-thời đại Về chính trị, kinh tế, xã hội Nhân loại đã phải trải qua một thời đại biến động và đã phải trả giá rất đắt. Phong trào công xã Paris khởi đầu cho một thời kì đại chiến tranh và cách mạng, Bảy mươi hai ngày âm vang thời đại, đánh dấu sự can dự, tham gia một cách mạnh mẽ vào đấu trường chính trị của giai cấp cần lao nhưng nó cũng để lại hậu quả đẫm máu.
Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất từ 1914 đến 1918 đã tàn phá Châu Âu một cách kinh hoàng, gây ra tổn thất to lớn ở phương Tây về cả tài chính, vật chất, đặc biệt là nỗi đau tinh thần (sự mất mát, thất lạc người thân, sự tàn phá những làng mạc, vùng quê). Nước Anh - trung tâm của châu Âu, cường quốc công nghiệp với danh xưng “mặt trời không bao giờ lặn trên nước Anh” - đã tiêu tốn 50% lợi tức quốc gia và mất khoảng một triệu binh sĩ vào cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Các trận không kích vào Anh vào năm 1914 đã làm người dân Anh bị tổn thương trên chính hòn đảo của mình. Niềm tin vào đế quốc Anh bị sụp đổ và Chiến tranh thế giới lần thứ nhất còn để lại hậu quả lâu dài, là nguyên nhân dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Chiến tranh đã gây ra một bầu không khí u ám và diệt vong ở đế quốc Anh. Cuộc đại chiến thế giới thứ hai đã để lại hậu quả khốc liệt: sự tổn thất nhân mạng là không thể tính nổi, riêng chỉ Liên Xô (cũ) đã có tới 26,6 triệu người chết trong chiến tranh, và đỉnh điểm của cuộc chiến là việc Hoa Kỳ lấy cớ tiêu diệt chủ nghĩa phát xít đã thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản, để lại sự thiệt hại vô cùng thảm khốc. Thời đại chiến tranh và cách mạng đã đặt phận người vào tình thế mong manh giữa sống và chết, cuộc đời có ý nghĩa và tính chất hư vô. Tình thế ấy đặt ra một 17 câu hỏi lớn: nhân loại đang đi về đâu? Sự tồn tại của con người có nghĩa lý hay không có nghĩa lý? Những tổn thất, mất mát quá lớn của thế giới cũng đặt loài người trước một cuộc sống đầy bất trắc, bất an.
Ngay trong hạnh phúc đã nhen nhóm mầm mống đau khổ, nguy cơ hủy diệt mầm mống hạnh phúc ấy có khi đã cận kề. Thực tại thật vô thường, không thể nắm bắt, hạnh phúc ngắn ngủi, vượt quá tầm tay. Công nghiệp hóa phát triển nhanh chóng đã thay đổi hoàn toàn các lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, sự chia rẽ giai cấp chính trị dẫn đến phân chia và bất ổn xã hội. Quá trình đô thị hóa quá nhanh làm tăng cảm giác cô lập, chia rẽ.
Các chuẩn mực của đạo đức truyền thống đã không còn phù hợp, bị coi là phi thực tế và giả tạo trong một xã hội mới đầy biến động và hỗn loạn. Một xã hội mất dần sự kết nối đã thúc đẩy con người hướng nhiều hơn vào nội giới, suy tư chiêm nghiệm. Về khoa học - kỹ thuật Những phát minh mang tính cách mạng trong khoa học tự nhiên và y học về nguồn gốc con người gây ra cuộc khủng hoảng về đức tin. Học thuyết tiến hóa và chọn lọc tự nhiên của Charles Robert Darwin giữa thế kỉ XIX làm lay đổ các giá trị truyền thống và đức tin của con người.
Albert Einstein đạt giải thưởng Nobel với thuyết tương đối đã chứng minh mối quan hệ không thể tách rời giữa không gian và thời gian. Ông được coi là cha đẻ của vật lí hiện đại và có ảnh hưởng sâu đậm đến giới trí thức London cũng như giới trí thức Âu - Mỹ những năm 1920 và nhiều năm sau đó. Những thành tựu ấy của trí tuệ loài người tuy không tác động trực tiếp vào đời sống văn học nhưng cũng không thể phủ nhận rằng văn học không thể không nhìn ngắm lại mình để nhìn ra những giới hạn của chính nó và tìm cách khai mở những lối đi mới khả dĩ phù hợp hơn với tư duy của con người hiện đại. 18 Về tư tưởng Tất cả những “chủ nghĩa” và học thuyết đầu thế kỷ XX đều mang tính chất chủ quan nhằm đối lập với tư duy thuần lí nặng tính cơ giới trong việc nhận thức và diễn đạt thực tại.
Chủ nghĩa duy lý nhấn mạnh vai trò lý trí của con người. Chủ nghĩa duy khoa học, duy kỹ thuật, kỹ trị khoa học là phương tiện vạn năng giúp con người giải quyết tất cả các vấn đề mang tính vật chất song ở mặt khác nó lại bộc lộ những giới hạn của mình, làm hạn chế khả năng nắm bắt thực tại trong tính uyển chuyển và linh động của nó, tức là đời sống tinh thần, bên trong của con người. Vấn đề đặt ra là khi loài người đủ “khôn” để nhận ra sự bất cập, bất tín của duy lý thì cái gì sẽ bổ sung, thậm chí là thay thế? Thế giới ngay lập tức có câu trả lời: Trực giác (Bergson), Phân tâm học (Freud) là những học thuyết mang màu sắc phản duy lý sẽ mở ra cánh của thênh thang cho mĩ học hiện đại. Đó là con đường đi sâu vào nội giới.
Sigmun Freud đã đặt nền tảng tâm lý cho chủ nghĩa hiện đại với thuyết phân tâm học, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của vô thức, mặc cảm Oedipe và yếu tố tính dục. Freud cho rằng tâm trí con người đa tầng, giấc mơ, ký ức và tưởng tượng cũng quan trọng như hành động và suy nghĩ. Freud nhấn mạnh vào sự tồn tại thế giới vô thức của con người. Ông đưa ra lý thuyết, có một phần tâm trí của mình con người không nắm bắt hết được.
Chúng ta không thể biết hết tất cả những suy nghĩ, nỗi sợ hãi, động lực và mong muốn của chính mình. Các nhà văn thời kỳ này rất tâm đắc với khám phá này, trong đó rõ rệt nhất là các nghệ sĩ thuộc trường phái siêu thực (surrealism). Họ đã tìm nhiều cách để chiếu sáng cõi vô thức của con người. Nhờ vậy cung cấp được cái nhìn sâu sắc về nội tâm của nhân vật.
Triết lý của Henri - Louis Bergson ảnh hưởng lớn trong những thập niên đầu thế kỉ 20. Bergson mô tả trực giác và kinh nghiệm quan trọng hơn khoa học. Ông tập trung vào trí nhớ, thời gian bên trong và trực giác. Thời gian bên trong là chủ quan và không thể lý giải bằng khoa học.
Bergson cho rằng: cái 19 tôi của con người mang tính hai mặt. Đó là một cái tôi hời hợt, xã hội, bên ngoài và một cái tôi sâu lắng bên trong. Cái tôi bên trong mới là quan trọng. Bởi cái tôi bên ngoài luôn bị chi phối, cắt xén bởi môi trường, hoàn cảnh.
Văn chương phải đi vào cái tôi sâu lắng bên trong, cái tôi cá nhân… Đời sống là một dòng chảy liên tục, không thể đo đếm bằng thời gian vật lí, đó là dòng chảy liên tục của nội tâm. Ông cũng cho rằng một trong những năng khiếu mạnh nhất của loài người là năng khiếu của sự liên tưởng, tưởng tượng, trong đó có trực giác. Trực giác không bí ẩn, mà đó là năng lực đặc biệt để thế giới thuộc về ta, người nghệ sĩ không còn bị ràng buộc bởi hàng rào ngăn cách giữa chủ thể và khách thể, nó là một thứ năng lực thần cảm của người nghệ sĩ. Sức tàn phá của hai cuộc chiến tranh thế giới và sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày của con người, làm lung lay hệ thống niềm tin, thế giới quan, nhân sinh quan.
Khi khả năng tự tri đủ lớn, con người ý thức rõ rệt được sự xung đột giữa bản thân với ngoại giới, khi con người suy tự về bản thân mình sẽ làm nảy sinh vấn đề phận người. Đây chính là tư tưởng cốt lõi của văn học hiện đại. Trước những câu hỏi lớn của thời đại về thân phận con người, về tương lai của thế giới, các nhà văn đã có câu trả lời bằng cách chuyển sang tình cảm hiện đại. Đã qua rồi thời kỳ Lãng mạn, văn chương tập trung vào năng lượng cảm xúc dồi dào có tính tuôn trào của người nghệ sĩ trước thiên nhiên, trước nỗi đau và sự cô đơn của con người trước thực tại bất như ý, tiểu thuyết hiện đại tiếp thu truyền thống của chủ nghĩa hiện thực phê phán nhưng chuyển dịch trọng tâm vào nội giới, tức thế giới nội tâm và những trải nghiệm ý thức của chính chủ thể.
Tiểu thuyết tâm lý hiện đại đã nảy sinh trên cái nền xã hội, tư tưởng, triết lý như thế. Sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại trong văn học Sự sụp đổ của thế giới bên ngoài khiến nhà văn ngày càng chuyển trọng tâm vào thế giới bên trong với những trạng thái cảm xúc, những căng thẳng 20 tâm lý và các ấn tượng giác quan để rút ra một thực tế: hiện thực chỉ có thể được nhận thức một cách chủ quan. Chủ nghĩa hiện đại trong văn học có nguồn gốc từ cuối thế kỷ 19 và phát triển mạnh trong những thập niên đầu thế kỷ 20, chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ, chủ trương phá vỡ cách viết truyền thống, trong cả thơ và văn xuôi.