CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mục đích của chương này là hệ thống hóa, phân tích các nghiên cứu trước, xác định khe hổng của các nghiên cứu trước làm cơ sở thực hiện nghiên cứu. Bắt đầu là trình bày và bàn luận các nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến nhân tố tác động đến sử dụng PMKT thành công, theo đó tác giả liệt kê mục tiêu, phương pháp và các kết quả của nghiên cứu. Tổng hợp các nhân tố tác động được rút ra từ nghiên cứu. Phần tiếp theo, tác giả đưa ra những điều đạt được và hạn chế của nghiên cứu từ đó tìm ra khe hổng nghiên cứu làm cơ sở cho nghiên cứu của mình.
NC về nhân tố tác Thành quả và hạn Khe hổng và hướng động đến sử dụng chế của nghiên nghiên cứu tiếp PMKT thành công cứu trước theo SĐ 1.01: Phác thảo các bước công việc tìm hiểu NC về các nhân tố tác động đến sử dụng PMKT thành công. Các nghiên cứu về mô hình sử dụng ERP thành công cũng được nhắc tới trong luận văn, Hùng (2020) nêu ra rằng hệ thống ERP được hiểu là một PMKT đóng gói, ERP có nhiều phân hệ chức năng trong đó phân hệ kế toán được xem là thành phần cốt lõi, vì vậy ERP có thể được xét đến như một hệ thống PMKT cấp cao, việc trình bày các bài nghiên cứu về ERP cũng mang lại giá trị tham khảo. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng xét đến các nghiên cứu về nhân tố tác động đến sự hài lòng của người sử dụng PMKT, nhân tố tác động đến kết quả hoạt động của DN trong môi trường ứng dụng PMKT, các nghiên cứu này phù hợp với phạm vi nghiên cứu sử dụng PMKT thành công đã đề ra ban đầu, gồm tác động PMKT đem lại cho cá nhân và tổ chức sử dụng. Nghiên cứu trong nước 1.
Nghiên cứu của Xuân (2011) Nghiên cứu thực hiện xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá PMKT dựa trên tiêu chuẩn quốc tế ISO 9126 - đánh giá và quy định các đặc tính về phần mềm. ISO 9126 được Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc Tế (ISO) đưa ra vào năm 1991 gồm 6 đặc tính: đặc tính chức năng, độ tin cậy, sử dụng được, tính hiệu quả, bảo trì được và khả chuyển. Từ 6 đặc tính này Xuân (2011) tiến hành kiểm định để tìm ra các tiêu chí đánh giá PMKT. Nghiên cứu định lượng bằng phương pháp thu thập thông tin và khảo sát các ý kiến đánh giá tại 100 đơn vị đang sử dụng PMKT tại Việt Nam.02: Mô hình nghiên cứu của Xuân (2011) Trên cơ sở phân tích và tổng hợp dữ liệu thu được cùng với thực nghiệm của bản thân đã trực tiếp sử dụng PMKT, Xuân (2011) đưa ra tiêu chí mà một PMKT cần đáp ứng gồm: Tuân thủ các quy định về chế độ kế toán của Việt Nam; đảm bảo tính khoa học trong quản lý đối tượng kế toán; đảm bảo tính chính xác; đảm bảo tính mở, tính động; đảm bảo mức độ tự động hóa cao; đảm bảo tính bảo mật và kiểm soát thông tin; đảm bảo an toàn dữ liệu; tương thích với các phần mềm khác.
Nghiên cứu của Hùng (2020) Hùng (2020) đưa ra mô hình nghiên cứu tác động giữa các yếu tố đáp ứng và mức độ phù hợp của phần mềm đến sử dụng PMKT đóng gói thành công tại Việt 8 Nam. Dựa trên sự tương tác giữa 3 thành phần cơ bản của quá trình ứng dụng PMKT gồm: PMKT đóng gói với những đặc điểm sẵn có, DN ứng dụng phần mềm với yêu cầu và đặc điểm đặc thù của DN, sử dụng trực tiếp từ người sử dụng. Đồng thời, dựa trên mô hình Delone and McLean (2003), Hùng (2020) đã đề xuất mô hình NC mối quan hệ giữa mức độ phù hợp và các yếu tố đáp ứng với sử dụng PMKT đóng gói thành công tại Việt Nam. Theo đó, 7 giả thuyết được tác giả xây dựng, trong đó các yếu tố đáp ứng đối với PMKT đóng gói bao gồm: Mức độ đáp ứng của PMKT (H2), mức độ đáp ứng từ phía DN (H3) và mức độ đáp ứng từ phía người sử dụng (H4).
Sự tương tác giữa mức độ phù hợp của phần mềm và các yếu tố đáp ứng đối với PMKT đóng gói cũng được xét đến và xây dựng thêm 3 giả thuyết H 1-2, 1-3, 1-4, bao gồm sự tương tác giữa tính đáp ứng của PM và mức độ đáp ứng của người sử dụng; giữa mức độ đáp ứng từ phía DN và mức độ đáp ứng của người sử dụng; giữa mức độ phù hợp của PMKT và mức độ đáp ứng của người sử dụng vào sử dụng PMKT thành công.03: Mô hình nghiên cứu tác động giữa các yếu tố đáp ứng và mức độ phù hợp đến sử dụng PMKT đóng gói thành công (Hùng, 2020) Nghiên cứu của Hùng (2020) mới dừng lại ở bước đưa ra mô hình chứ chưa tiến hành đo lường và kiểm định mô hình dựa trên số liệu thực tế. Mô hình được đề 9 xuất cho các nghiên cứu tiếp theo có thể kiểm nghiệm vai trò của mức độ phù hợp PMKT, yếu tố đáp ứng đối với PMKT (đáp ứng từ phần mềm, DN, người sử dụng) đối với quá trình sử dụng PMKT thành công tại các DN Việt Nam. Nghiên cứu của Tâm (2020) Nghiên cứu của Tâm (2020) đã phân tích mối quan hệ giữa triển khai thành công ERP với các kỹ thuật thực hành kế toán quản trị (MAP) và hiệu quả kinh doanh tại Việt Nam. Định nghĩa triển khai thành công được tác giả giới hạn ở giai đoạn đã và đang sử dụng PMKT.
Trong đó, mô hình đo lường thành công bao gồm 5 yếu tố: Chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, sử dụng hệ thống, tác động cá nhân và tác động tổ chức. NC sử dụng phương pháp thiết kế hỗn hợp tuần tự kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, được tiến hành thông qua 2 bước: Tác giả tiến hành phương pháp phỏng vấn tay đôi với các chuyên gia gồm 8 chuyên gia trong ERP, 4 chuyên gia nhóm kế toán quản trị và 10 chuyên gia nhóm nghiên cứu. Với mẫu gồm 272 người sử dụng của 124 doanh nghiệp tại Việt Nam. Dữ liệu định lượng được phân tích trên 3 phần mềm excel, SPSS 20.
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha mô hình đo lường thành công, có 5 thang đo đạt tiêu chuẩn bao gồm: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, sử dụng hệ thống, tác động cá nhân và tác động tổ chức. Trong đó, chất lượng thông tin bao gồm thông tin phải dễ hiểu, chính xác, kịp thời; tác động tổ chức thể hiện ở việc cải thiện kết quả/đầu ra, giảm chi phí, cải thiện năng suất, chính phủ điện tử, cải thiện quy trình tổ chức; tác động cá nhân là khả năng hiểu rõ công việc, hiệu quả công việc, hiệu suất ra quyết định, năng suất công việc, khả năng xử lý chính xác vấn đề; chất lượng hệ thống thể hiện qua việc dữ liệu chính xác, dữ liệu đồng bộ, đáp ứng yêu cầu sử dụng, tính phân quyền, tính thân thiện, tin cậy, hiệu suất công việc, tích hợp, tùy chỉnh. 10 Nhân tố sử dụng hệ thống nghĩa là hệ thống phải dễ sử dụng, phù hợp với mục đích sử dụng, cải thiện khả năng xử lý công việc.04: Mô hình nghiên cứu của Tâm (2020) Mô hình đo lường thành công trong nghiên cứu của Tâm (2020) là một kênh tham khảo có giá trị về mô hình đo lường sử dụng PMKT thành công. Nghiên cứu của Minh (2021) Minh (2021) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích (LI) kế toán trong giai đoạn sau triển khai hệ thống ERP tại các DN ở Việt Nam.
Lợi ích kế toán được nhắc đến là LI mà hệ thống ERP đem lại cho kế toán tại DN. Thang đo đo lường LI kế toán được tác giả kế thừa và hiệu chỉnh từ các nghiên cứu trước gồm: LI kế toán công nghệ thông tin (CNTT), LI kế toán hoạt động, LI kế toán vận hành, LI kế toán quản trị, LI kế toán hoạt động, LI kế toán vai trò nhân viên kế toán. 11 Bốn nhân tố tác động được xác định thông qua tổng hợp của tác giả và vận dụng mô hình Delone and McLean (2003) gồm: chất lượng hệ thống; chất lượng dịch vụ của DN cung cấp dựa trên việc thực hiện đúng cam kết, hiểu rõ nhu cầu, hồi đáp nhanh chóng, có nhiều kênh để liên lạc, tương tác tốt; nhân tố tổ chức đo bằng sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao, sự hoàn thiện quy trình KD; nhân tố sự hài lòng của người dùng. Nhân tố kiểm soát những tiến bộ CNTT doanh nghiệp áp dụng được tác giả tự đề xuất và được hoàn toàn đồng ý trong cuộc phỏng vấn nhóm.05: Mô hình nghiên cứu của Minh (2021) Nghiên cứu định tính phỏng vấn tay đôi kết hợp với định lượng.
Với dữ liệu của 282 doanh nghiệp tại Việt Nam kết hợp sử dụng kỹ thuật phân tích mô hình SEM, CFA, kết quả nghiên cứu đưa ra 2 nhân tố trong nhóm nhân tố tổ chức gồm: sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao, sự hoàn thiện quy trình KD tại DN có tác động trực tiếp đến LI kế toán trong hệ thống ERP. Nhân tố kiểm soát được tác giả thêm vào qua nghiên cứu định tính là những tiến bộ CNTT doanh nghiệp áp dụng cũng mang lại kết quả có tác động đến LI kế toán. 12 Có thể vận dụng 2 nhân tố trong nghiên cứu là sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao và sự hoàn thiện quy trình KD để xem xét các nhân tố tác động đến sử dụng PMKT thành công. Nghiên cứu của Dương et al.
(2022) NC được thực hiện với mục tiêu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của kế toán đối với PMKT Misa tại các đơn vị sự nghiệp công lập thành phố Huế. Tại đó, sự hài lòng của kế toán đối với PMKT là cảm nhận của kế toán thông qua các tác động mà PMKT đem lại cho cá nhân người dùng. Dựa trên mô hình đo lường chất lượng SERVPERE, Dương et al. (2022) xây dựng mô hình với 5 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc, theo đó biến sự hài lòng của kế toán khi sử dụng PMKT Misa được đo lường bằng sự hài lòng với các tính năng của phần mềm, dịch vụ hỗ trợ và khả năng tiếp tục sử dụng PMKT trong tương lai.06: Mô hình nghiên cứu của Dương et al.
(2022) Dương sử dụng nghiên cứu định tính bằng kỹ thuật phỏng vấn từ các kế toán trưởng, nhân viên công ty Misa, cán bộ phòng tài chính thành phố Huế. Kết hợp nghiên cứu định lượng với 132 kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng Misa.