CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời kỳ chiến tranh, con người bị cướp đi sinh mạng bởi bom đạn, bởi tội ác của giặc thì trong thời đại hoà bình, sự sống ấy lại dễ dàng bị cánh tay tử thần của "ô nhiễm môi trường" cướp mất. Nó diễn biến phức tạp, khó lường là mối nguy hại lớn nhất không chỉ ở đất nước ta nói riêng mà còn trên cả thế giới nói chung, vì nó ảnh hưởng sâu rộng và trực tiếp đến tất cả mọi phương diện trong đời sống hằng ngày của chúng ta như là: chính trị, an sinh xã hội, chất lượng cuộc sống con người, dịch vụ y tế, mức sống, công việc của người dân và đặc biệt là ảnh hưởng rõ nét nhất ở nền kinh tế toàn cầu; góp phần khiến nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng suy thóai nghiêm trọng. Những năm gần đây được đánh dấu là năm vô cùng khó khăn của các doanh nghiệp, bên cạnh những tác động tới con người, ô nhiễm môi trường đã và đang nhanh chóng gây ra những gián đoạn trong kinh doanh, tiêu dùng và đời sống sinh hoạt không chỉ ở riêng các khu vực bị ảnh hưởng.
Chính vì thế các nhà quản trị và lãnh đạo của đất nước phải phối hợp cùng với các bộ, ngành của mình để đưa ra được những phương án, chiến lược tốt nhất nhằm đối phó với mối nguy hại đến từ ô nhiễm môi trường. Để có thể làm được điều này, các doanh nghiệp phải có một tư duy kinh doanh để định hướng cho con đường phát triển sau này. Năm 2020 là cột mốc quan trọng cho thấy tầm ảnh hưởng của công nghệ với đời sống và thương trường. Thời điểm dịch bệnh tạo sân chơi đầy thách thức cho người cũ và là cơ hội cho những doanh nghiệp có sự linh hoạt trong quản trị nhân sự từ xa, ứng dụng phần mềm, dịch vụ vận chuyển để kết nối với đối tác, khách hàng qua Smartphone.
Trải qua năm 2020 và cho tới hiện tại với các diễn biến phức tạp của dịch COVID - 19, việc tận dụng dịch vụ công nghệ đã trở thành xu hướng tất yếu mà doanh nghiệp nào cũng cần tận dụng để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Một doanh nghiệp có thể cập nhật các xu hướng kinh doanh mới và tận dụng các tiện ích số sẽ có nhiều cơ hội phát triển bền vững giữa thị trường có 2 nhiều thay đổi và áp lực cạnh tranh như hiện nay như: những ứng dụng di chuyển Grab, Be, Gojek, Baemin; hay các trang thương mại điện tử: Shopee, Tiki, Lazada, Tiktok Shop; hay các doanh nghiệp vận chuyển hàng như: Giao hàng nhanh, Giao hàng tiết kiệm, Lalamove, Ahamove, Shopee Express… Nhưng nhìn chung đại đa số các tài xế vẫn đang sử dụng các phương tiện truyền thống như xe máy hoặc ôtô bằng xăng hay dầu diesel thải ra rất nhiều khói bụi và gây ô nhiễm môi trường. Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022, chất lượng không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng xấu đi, đặc biệt là ở khu vực trung tâm thành phố. Mức độ ô nhiễm bụi mịn PM2.5 tại Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên vượt ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng ở mức cao, đặc biệt là ở khu vực trung tâm thành phố và các tuyến đường giao thông đông đúc. Chính vì thế Chủ tịch Tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng đã công bố thành lập Công ty Cổ phần Di chuyển Xanh và Thông minh (Green and Smart Mobility – GSM). Xanh SM đặt mục tiêu phổ cập thói quen sử dụng xe điện tới từng người dân, qua đó nâng cao nhận thức cộng đồng về sự thuận tiện, thông minh và bền vững của các dòng xe xanh. Thông qua các hình thức đa dạng, Xanh SM sẽ góp phần đưa xe điện VinFast tiếp cận sâu rộng và linh hoạt nhất tới mọi tầng lớp khách hàng, từng bước kiến tạo thói quen sử dụng phương tiện xanh, thông minh và thân thiện với môi trường trong đời sống hàng ngày.
Như vậy, trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp của mình trong thời điểm ô nhiễm và cả tương lai sau này, phương tiện di chuyển xanh sẽ là chìa khóa giúp doanh nghiệp tối ưu thành công trong kinh doanh, góp phần xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp và chất lượng đời sống an sinh xã hội của người dân được nâng cao hơn không chỉ riêng ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh mà còn trên khắp đất nước Việt Nam. Ngoài ra việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là sinh viên đang học tại trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh vì họ là 3 là một nhóm đối tượng đặc thù có những đặc điểm riêng, như độ tuổi, hoàn cảnh tài chính, và nhu cầu sử dụng dịch vụ di chuyển. Bên cạnh đó tác giả của đề tài chính là sinh viên của trường Ngân Hàng nên rất dễ tiếp cận và thu thập dữ liệu; sinh viên Ngân Hàng cũng là một trong những khách hàng tiềm năng bởi tính chất phải di chuyển cho việc học và sinh hoạt trong cuộc sống là một trong những nguyên do chính. Việc tập trung vào đối tượng này sẽ giúp tăng tính cụ thể và áp dụng của nghiên cứu Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh” trở nên rất cần thiết trong mội trường cạnh tranh khốc liệt này.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Xác định và phân tích Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định sử dụng phương tiện xanh bảo vệ môi trường. Mục tiêu cụ thể Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh trường hợp: dịch vụ Xanh SM của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh trường hợp: dịch vụ Xanh SM của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Đề xuất hàm ý nhằm nâng cao ý định sử dụng phương tiện xanh trường hợp: dịch vụ Xanh SM của sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành Phố Hồ Chí Minh. Câu hỏi nghiên cứu Dựa vào mục tiêu nghiên cứu và các yếu tố liên quan đến ý định sử dụng phương tiện xanh của sinh viên như: Nhận thức về lợi ích của phương tiện 4 xanh, Thái độ đối với phương tiện xanh, Thói quen, Thu nhập, Yếu tố dịch vụ, Yếu tố môi trường. Dưới đây là một số câu hỏi nghiên cứu có thể được sử dụng: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh? Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định sử dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào? Những hàm ý quản trị nào để gia tăng ý định sử dụng dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh? 1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát: Sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi về thời gian: Bài nghiên cứu được thực hiện trong năm 2024 từ tháng 01/2023 đến tháng 04/2024 và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ý định sử dụng dịch vụ phương tiện xanh của sinh viên. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng trong đó phương pháp định lượng làm chủ đạo, cụ thể như sau: Nghiên cứu định tính: Thông qua các nghiên cứu liên quan đến các yếu 5 tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh: trường hợp dịch vụ Xanh SM của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với sự thảo luận với các chuyên gia, giảng viên hướng dẫn. Từ đó, đưa ra những cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phương tiện xanh. Từ đây, sẽ xây dựng bảng khảo sát dựa trên các thang đo kế thừa từ các nghiên cứu trong nước và trên thế giới, kết hợp với ý kiến của các chuyên gia và sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thanh phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng khảo sát cấu trúc để khảo sát thông tin từ sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh bằng hình thức trực tuyến, phương pháp chọn mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu từ sinh viên. Từ những thông tin, dữ liệu thu thập được sẽ sử dụng các phương pháp phân tích thống kê như: thống kê mô tả, độ tin cậy thang đo bằng chỉ số Cronbach’s Alpha, kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt các thang đo bằng phương pháp phân tích các nhân tố khám phá (EFA). Đề tài sử dụng chương trình phần mềm thống kê SPSS 20.0 để hỗ trợ quá trình phân tích. Thiết kế bảng khảo sát: Nội dung bảng khảo sát: - Phần 1: Thông tin chung - Phần 2: Đo lường các khái niệm nghiên cứu theo thang Likert 5 mức độ tương ứng theo quy ước: 1.
Rất không đồng ý; 2. Bình thường; 4. Mẫu khảo sát - Khảo sát ngẫu nhiên 339 sinh viên đang học các khóa tại Trường Đại học Ngân Hàng TP. - Khảo sát bảng hỏi thông qua mạng xã hội (các nhóm học tập của sinh viên thuộc các khóa của Trường Đại học Ngân hàng TP.
- Khảo sát bảng hỏi thực tế ở các lớp của Trường. Phương pháp phân tích định lượng 6 - Thống kê mô tả. - Phân tích độ tin cậy các thang đo bằng Cronbach’s Alpha. - Kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt các thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA).