CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới có rất nhiều học giả và nhà nghiên cứu tìm hiểu và có nhiều cách tiếp cận khác nhau về ý định khởi nghiệp. Tất cả những nghiên cứu đó đóng góp cả về lý thuyết và thực tiễn cho các đề tài liên quan đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Tác giả xin được chỉ ra một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Nghiên cứu của Ambat và Damit (2016) với đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Malaysia” nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB). Các biến độc lập của nghiên cứu này bao gồm: (1) Nhận thức về hỗ trợ giáo dục, (2) Nhận thức hỗ trợ quan hệ, (3) Hỗ trợ cấu trúc nhận thức, (4) Thái độ cá nhân, và (5) Nhận thức kiểm soát hành vi. Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát 351 sinh viên đại học.
Kết quả cho thấy thái độ cá nhân, nhận thức kiểm soát hành vi và nhận thức hỗ trợ quan hệ là những yếu tố dự đoán ý định khởi nghiệp của sinh viên ảnh hưởng theo mức độ giảm dần[29]. Nghiên cứu của Yushun Su và các cộng sự (2021) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học ở Trung Quốc: Tích hợp sự hỗ trợ của trường đại học được nhận thức và lý thuyết về hành vi có kế hoạch”. Nghiên cứu nghiên cứu này đã áp dụng quan điểm TPB kết hợp với hỗ trợ nhận thức của trường đại học (PUS) để mở rộng khuôn khổ TPB và giải thích tác động của sự hỗ trợ đó đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên. Các yếu tố được đưa vào nghiên cứu bao gồm: (1) Thái độ kinh doanh, (2) Tiêu chuẩn chủ quan, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Hỗ trợ đại học nhận thức, (5) Nhận thức về sự hỗ trợ của trường đại học ảnh hưởng tích cực đến kiểm soát hành vi và 6 nhận thức về sự hỗ trợ của trường đại học ảnh hưởng tích cực đến thái độ.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả đã chỉ ra rằng 4 yếu tố: (1) Thái độ kinh doanh, (2) Tiêu chuẩn chủ quan, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Hỗ trợ đại học nhận thức và (5) Nhận thức về sự hỗ trợ của trường đại học ảnh hưởng tích cực đến thái độ cùng có tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Trung Quốc[57]. Nghiên cứu của Mesay Sata (2013) “ Ý định khởi nghiệp trong đại học sinh viên kinh doanh” nhằm đánh giá ý định khởi nghiệp trong tương lai của sinh viên tại ba trường đại học được lựa chọn. Ý định khởi nghiệp được đo lường thông qua ba khía cạnh của tinh thần kinh doanh, tức là nền tảng kinh doanh gia đình, nhận thức được mong muốn và nhận thức được năng lực bản thân. Mẫu bao gồm 405 sinh viên sắp tốt nghiệp, trong đó 135 sinh viên từ Đại học Hawassa và 135 sinh viên từ Đại học Dilla và 135 sinh viên còn lại từ Đại học Arbaminch được thu thập thông qua bảng câu hỏi.
Kết quả chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa các khía cạnh của tinh thần kinh doanh và ý định hướng tới tinh thần kinh doanh của sinh viên đại học. Hơn nữa, hai khía cạnh của tinh thần kinh doanh, tức là nền tảng kinh doanh gia đình và nhận thức về năng lực bản thân giải thích sự khác biệt về ý định bắt đầu một dự án kinh doanh mới của sinh viên[55]. Nghiên cứu của Sabah (2016) “Ý định kinh doanh: Lý thuyết về kế hoạch Hành vi và Hiệu ứng Điều độ của Khởi nghiệp” Kinh nghiệm được thực hiện thông qua khảo sát 528 sinh viên năm ba và năm tư ngành Quản trị kinh doanh (232 nam và 296 nữ) đến từ ba thành phố của Thổ Nhĩ Kỳ: Istanbul, Ankara và İzmir. Lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) được sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố trong mô hình đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, gồm thái độ đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi và quy chuẩn chủ quan[57]. Tổng quan nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020) với đề tài “ 7 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang” nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp là : (1) đặc điểm tính cách, (2) giáo dục khởi nghiệp, (3) kinh nghiệm, (4) nhận thức kiểm soát hành vi, (5) quy chuẩn chủ quan, (6) nguồn vốn và (7) thái độ đối với hành vi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là: (1) đặc điểm tính cách, (2) giáo dục khởi nghiệp, (3) kinh nghiệm, (4) nhận thức kiểm soát hành vi và (5) quy chuẩn chủ quan.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ tập trung khảo sát sinh viên năm cuối mà bỏ qua sinh viên các năm khác nên mức độ đánh giá sẽ bớt đi sự khách quan[11]. Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: trường hợp sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường đại học Cần Thơ” của tác giả Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) được thực hiện với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp (KSDN) của sinh viên Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ. Nghiên cứu dựa trên hành vi dự định của Ajzen (1991) kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu có 6 nhân tố: (1) Thái độ, (2) Quy chuẩn chủ quan, (3) Nhân thức kiểm soát hành vi, (4) Giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, (5) Nguồn vốn, (6) Nhu cầu thành đạt.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 233 sinh viên kinh tế (năm nhất và năm hai) thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Thực hiện một nghiên cứu khám phá chúng tôi tìm 8 thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên bao giảm dần từ cao xuống thấp gồm: (1) Thái độ và tự hiệu quả, (2) Giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, (3) Nguồn vốn, (4) Quy chuẩn chủ quan và (5) Nhận thức kiểm soát hành vi. Một vài hạn chế xuất hiện trong kết quả nghiên cứu là do hạn chế về thời gian và kinh phí nên nghiên cứu này chỉ tiến hành với cỡ mẫu thực tế là 233, các nghiên cứu trong tương lai có thể tăng số quan sát mẫu dựa vào tỷ lệ sinh viên các ngành kinh tế cũng như sinh viên năm 3 và năm 4 để có sự so sánh sự khác biệt với ý định khởi nghiệp của sinh viên năm 1 và năm 2. Thứ hai, trong số các nhân tố có ảnh hưởng đến ý định KSDN của sinh viên như đã được đề cập trong mô hình còn nhiều nhân tố khác chẳng hạn như các nhân tố thuộc về tính cách cá nhân có ảnh hưởng đến ý định KSDN mà đề tài chưa tập trung làm rõ[12].
Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017) “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trường đại học kỹ thuật công nghệ Cần Thơ” nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của 166 sinh viên trường Đại học Kỹ thuật-Công nghệ Cần Thơ. Mở rộng lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) kết hợp với đặc điểm nhân khẩu học, tính cách, và giáo dục khởi nghiệp kinh doanh, kết quả nghiên cứu nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) cho thấy có 7 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên bao gồm (1) Đặc điểm tính cách; (2) Thái độ cá nhân; (3) Nhận thức và thái độ; (4) Giáo dục khởi nghiệp; (5) Nhận thức điều khiển hành vi; (6) Quy chuẩn và thái độ; (7) Quy chuẩn chủ quan. Kết quả nghiên cứu một mặt cung cấp thêm dữ liệu thực chứng mặt khác là đưa ra khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia giáo dục. Nghiên cứu này cũng có những hạn chế nhất định.
Do thời gian thực hiện nghiên cứu tương đối ngắn nên số lượng cỡ mẫu nghiên cứu chưa thực sự lớn, do vậy tính đại diện cho tổng thể còn hạn chế[19]. 9 Nghiên cứu của Cao Thị Sen và cộng sự (2021) nhằm xác định “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường đại học Nam Cần Thơ.” Phương pháp thực hiện đề tài là định tính để xác định mô hình nghiên cứu và định lượng để xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi với 310 sinh viên năm ba và năm tư của Khoa Kinh tế và Khoa Kiến trúc - Xây dựng và Môi trường. Kết quả nghiên cứu mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cho thấy có 05 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên theo mức độ giảm dần là: (1) Đặc điểm tính cách; (2) Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp; (3) Môi trường giáo dục; (4) Nhận thức kiểm soát hành vi và (5) Nguồn vốn.
Bên cạnh đó, kết quả cũng đã chỉ ra chuẩn chủ quan không có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ khảo sát hai khoa của trường nên nghiên cứu sau này cần tăng số cỡ mẫu, khảo sát ở khoa khác hoặc nên tập trung khảo sát sinh viên một khoa[8].