Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khởi nghiệp đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế quốc gia thông qua việc gia tăng năng lực cạnh tranh, giải quyết việc làm và giảm nghèo (Davidsson, 1995). Tại Việt Nam, trước thực trạng sinh viên tốt nghiệp đối mặt với nguy cơ thất nghiệp trong năm đầu tiên hoặc làm việc trái ngành nghề đào tạo (Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO, 2017), việc khơi dậy tinh thần khởi nghiệp kinh doanh trong giới trẻ trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Chính phủ đã ban hành Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" theo Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017, song song với phong trào "Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp" (SV-STARTUP 2021) do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.
Tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, cuộc thi "Business Challenges" (Thách thức Kinh doanh) được phối hợp tổ chức cùng Viện Friedrich Naumann Foundation (FNF) từ tháng 7/2022 đã tạo sân chơi thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các ý tưởng kinh doanh của sinh viên chỉ dừng lại ở mức độ dự án tiềm năng và chưa được hiện thực hóa sau khi ra trường, bao gồm cả sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Hồng Diễm (ngành Quản trị Kinh doanh, Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) tập trung nghiên cứu đề tài: "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh – Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội".
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Viện Quản trị Kinh doanh (SBA) - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, từ đó xác định mức độ mong muốn khởi sự kinh doanh của nhóm đối tượng này. Để đạt mục đích trên, đề tài thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Đề ra những giải pháp thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội có tác động thế nào đến ý định khởi nghiệp của sinh viên?
- Làm thế nào để thúc đẩy sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội khởi nghiệp?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng theo khung Thuyết hành vi dự định (TPB) mở rộng.
- Phạm vi không gian: Sinh viên từ năm nhất đến năm tư thuộc Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Tư liệu, số liệu thứ cấp về khởi nghiệp tại Việt Nam từ năm 2013 đến thời điểm nghiên cứu; dữ liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát trực tuyến bằng Google Form trong tháng 4 năm 2023 (từ ngày 05/04/2023 đến ngày 10/04/2023).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên hai mô hình hành vi kinh điển:
- Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) của Fishbein và Ajzen (1975): Khẳng định hành vi được quyết định bởi ý định hành vi, trong đó ý định chịu sự chi phối của Thái độ đối với hành vi và Chuẩn chủ quan.
- Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991): Phát triển từ TRA bằng cách bổ sung nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavior Control) nhằm phản ánh nhận thức về mức độ dễ dàng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi.
Mô hình nghiên cứu đề xuất tích hợp thêm các nhân tố đặc thù từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Mô hình tính cách Big Five, lý thuyết vốn khởi sự kinh doanh của Carree & Thurik, lý thuyết giáo dục khởi nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn), hình thành 7 nhóm biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc là Ý định khởi nghiệp (YD):
- Thái độ đối với hành vi (TD): Đánh giá chủ quan của sinh viên về tính hấp dẫn và lợi ích của việc làm chủ doanh nghiệp.
- Quy chuẩn chủ quan (CQ): Áp lực và sự ủng hộ từ phía gia đình, bạn bè, thầy cô và xã hội.
- Nhận thức kiểm soát hành vi (KS/NTKS): Nhận thức về năng lực bản thân, tính khả thi và khả năng vượt qua trở ngại khi khởi sự.
- Đặc điểm tính cách (TC): Tính cách chủ động, khả năng nhận diện cơ hội, tinh thần chấp nhận thử thách (đo lường dựa trên các khía cạnh hướng ngoại, cởi mở, tận tâm, ổn định tâm lý).
- Nguồn vốn (NV): Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính từ bản thân, gia đình, người thân và các kênh huy động vốn.
- Giáo dục khởi nghiệp (GD): Kiến thức, kỹ năng, tinh thần đổi mới sáng tạo được bồi dưỡng qua các chương trình đào tạo của nhà trường.
- Kinh nghiệm (KN): Trải nghiệm thực tế từ việc đi làm thêm, kinh doanh bán thời gian hoặc giữ các vai trò quản trị đoàn thể/câu lạc bộ.
Tác giả thiết lập 7 giả thuyết nghiên cứu (từ H1 đến H7) tương ứng với mối quan hệ tác động cùng chiều (+) của 7 nhân tố trên đối với Ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Phương pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu
Khóa luận kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tổng hợp tài liệu, đối chiếu khoảng trống nghiên cứu, tham vấn ý kiến Giảng viên hướng dẫn (TS. Nguyễn Đức Xuân) và tiến hành khảo sát thử nghiệm trên 10 sinh viên để hiệu chỉnh bảng hỏi (làm rõ câu hỏi về thu nhập bao gồm cả hỗ trợ tài chính từ gia đình).
- Nghiên cứu định lượng:
- Thang đo: Sử dụng thang đo Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) với tổng cộng 42 biến quan sát.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu phi xác suất theo hình thức thuận tiện. Quy mô mẫu xác định theo Hair và cộng sự (2014) với tỷ lệ 5:1 (tối thiểu 210 mẫu cho 42 biến) và Green (1991) với tiêu chuẩn hồi quy $104 + m = 146$ mẫu ($m=42$). Kích thước mẫu lựa chọn thực tế là 241 sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh từ năm 1 đến năm 4.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu thu thập qua Google Form được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS, bao gồm: Thống kê mô tả; Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích hệ số tương quan Pearson; Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (OLS) và Phân tích phương sai (ANOVA) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp
Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Trên phạm vi quốc tế, tác giả phân tích các nghiên cứu của Ambat và Damit (2016 tại Malaysia), Yushun Su và cộng sự (2021 tại Trung Quốc), Mesay Sata (2013 tại Ethiopia), Sabah (2016 tại Thổ Nhĩ Kỳ). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp nghiên cứu của Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020), Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015), Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017), Cao Thị Sen và cộng sự (2021), Nguyễn Thị Thúy An và cộng sự (2022).
Từ việc phân tích tổng quan tài liệu, tác giả chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu chính:
- Hầu hết các nghiên cứu trước đây tập trung vào nhóm ngành kinh tế - kỹ thuật nói chung hoặc khảo sát gộp nhiều khối ngành; có rất ít nghiên cứu chuyên biệt vào sinh viên của một viện đào tạo đơn lẻ như Viện Quản trị Kinh doanh.
- Vai trò và tác động của hoạt động đào tạo, hỗ trợ từ cơ sở giáo dục đại học chưa được đào sâu tương xứng.
- Thiếu các nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của trải nghiệm đi làm thêm liên quan trực tiếp đến kinh doanh của sinh viên.
- Phần lớn nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát sinh viên năm cuối, bỏ qua đối tượng sinh viên năm nhất và năm hai.
Dựa trên cơ sở lý luận về khái niệm khởi nghiệp, vai trò lan tỏa tri thức và cạnh tranh kinh tế của khởi sự doanh nghiệp (Carree & Thurik, 2003; Audretsch, 2004), tác giả phát triển mô hình nghiên cứu gồm 7 biến độc lập tác động đến Ý định khởi nghiệp và xây dựng 7 giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H7.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu chuẩn hóa qua 8 bước: Xác định vấn đề nghiên cứu $\rightarrow$ Tổng quan lý thuyết $\rightarrow$ Đề xuất mô hình $\rightarrow$ Xây dựng thang đo sơ bộ $\rightarrow$ Tham khảo ý kiến GVHD và khảo sát thử $\rightarrow$ Khảo sát chính thức $\rightarrow$ Thu thập, xử lý dữ liệu $\rightarrow$ Kết luận và giải pháp.
Nội dung chương mô tả chi tiết việc xây dựng phiếu điều tra bảng hỏi gồm 2 phần:
- Phần 1: Thông tin nhân khẩu học (năm học, giới tính, kết quả học tập, kinh nghiệm kinh doanh, việc làm thêm, học phần khởi sự doanh nghiệp).
- Phần 2: Thang đo 42 biến quan sát thuộc 8 nhóm thang đo (Thái độ đối với hành vi - TD, Quy chuẩn chủ quan - CQ, Nhận thức kiểm soát hành vi - KS, Đặc điểm tính cách - TC, Nguồn vốn - NV, Giáo dục khởi nghiệp - GD, Kinh nghiệm - KN, và Ý định khởi nghiệp - YD).
Chương này cũng xác định rõ cơ sở toán học để tính cỡ mẫu đại diện tối thiểu ($N \ge 210$) và thiết lập các tiêu chuẩn thống kê dùng trong SPSS (hệ số Cronbach's Alpha $> 0.6$, hệ số tải nhân tố Factor Loading $> 0.5$, KMO từ 0.5 đến 1, Sig. Bartlett $< 0.05$, mức ý nghĩa hồi quy $p < 0.05$).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng thu được từ tập dữ liệu khảo sát sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung chương bao gồm:
- Tổng quan đơn vị khảo sát: Giới thiệu quá trình hình thành, sứ mệnh của Trường Đại học Kinh tế và Viện Quản trị Kinh doanh (SBA) - đơn vị tiên phong đào tạo quản trị chất lượng cao trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Thống kê mô tả mẫu: Phân tích cơ cấu mẫu theo năm học (từ năm 1 đến năm 4), giới tính, kết quả học tập; mô tả tỷ lệ sinh viên đã từng tự buôn bán, hợp tác buôn bán, đi làm thêm và đã từng học môn Khởi sự kinh doanh.
- Kiểm định chất lượng thang đo: Đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA cho các thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc, xác nhận các biến quan sát đạt độ hội tụ và độ phân biệt.
- Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết: Thực hiện ma trận tương quan Pearson, kiểm định mức độ phù hợp của mô hình hồi quy thông qua hệ số $R^2$, $R^2$ hiệu chỉnh và kiểm định ANOVA ($F$). Đánh giá trọng số tác động chuẩn hóa ($\beta$) của các biến độc lập để kết luận việc chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H7.
- Thảo luận kết quả: So sánh các hệ số tác động thực tế tại Viện Quản trị Kinh doanh với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế.
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh – Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội khởi nghiệp
Trên cơ sở kết quả hồi quy, chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện tương ứng với các nhân tố có ý nghĩa thống kê:
- Về Quy chuẩn chủ quan: Tăng cường sự kết nối giữa nhà trường và gia đình; xây dựng mạng lưới cựu sinh viên khởi nghiệp thành đạt để lan tỏa động lực.
- Về Nguồn vốn: Tạo cầu nối tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thiên thần, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sinh viên; hướng dẫn kỹ năng lập kế hoạch tài chính và gọi vốn.
- Về Giáo dục khởi nghiệp: Cải tiến giáo trình môn Khởi sự doanh nghiệp, tăng cường phương pháp giải quyết tình huống thực tế (case study), mở rộng quy mô cuộc thi Business Challenges.
- Về Đặc điểm tính cách và Thái độ: Tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng mềm, rèn luyện tư duy dám chấp nhận rủi ro, khả năng nhận diện cơ hội và tinh thần chủ động.
- Khuyến nghị đối với sinh viên: Chủ động tích lũy kinh nghiệm làm việc thực tế, tham gia các câu lạc bộ học thuật, chủ động tìm kiếm cố vấn (mentor).
- Tổng kết: Đánh giá đóng góp về mặt lý luận, đóng góp thực tiễn, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa thành công các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị Kinh doanh:
| Nhóm nhân tố |
Tên viết tắt |
Bản chất đo lường trong nghiên cứu |
| Thái độ đối với hành vi |
TD |
Đánh giá mức độ yêu thích và nhận thức lợi ích khi làm chủ doanh nghiệp |
| Quy chuẩn chủ quan |
CQ |
Áp lực và sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè, thầy cô và xã hội |
| Nhận thức kiểm soát hành vi |
KS / NTKS |
Đánh giá về năng lực cá nhân, sự tự tin và khả năng vượt qua rào cản |
| Đặc điểm tính cách |
TC |
Tính cách chủ động, dám đương đầu rủi ro, sự cởi mở và kiên trì |
| Nguồn vốn |
NV |
Khả năng tiếp cận, tích lũy và huy động nguồn lực tài chính |
| Giáo dục khởi nghiệp |
GD |
Vai trò truyền cảm hứng, trang bị kiến thức và kỹ năng từ chương trình đào tạo |
| Kinh nghiệm |
KN |
Trải nghiệm từ việc làm thêm, bán hàng và tham gia quản lý |
| Ý định khởi nghiệp |
YD |
Mức độ sẵn sàng và cam kết thành lập doanh nghiệp trong tương lai |
Đóng góp của đề tài
- Đóng góp về mặt lý luận: Khóa luận củng cố và mở rộng khung Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) khi tích hợp các biến số đặc thù gồm Giáo dục khởi nghiệp, Nguồn vốn, Kinh nghiệm và Đặc điểm tính cách vào mô hình nghiên cứu tại một cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu và ứng dụng cao tại Việt Nam.
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng phản ánh đúng thực trạng ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - UEB; giúp Ban giám hiệu nhà trường và lãnh đạo Viện có căn cứ xác thực để điều chỉnh khung chương trình, nâng cao hiệu quả cuộc thi Business Challenges và xây dựng mạng lưới hỗ trợ tài chính - cố vấn cho sinh viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi khảo sát: Đề tài chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng sinh viên thuộc Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, chưa mở rộng sang các khoa, viện khác trong toàn trường hoặc các trường đại học khối kinh tế khác, làm hạn chế khả năng khái quát hóa kết quả cho toàn bộ sinh viên kinh tế.
- Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện), có thể dẫn đến sai số chọn mẫu nhất định so với tổng thể.
- Khung thời gian: Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập trong một thời điểm ngắn hạn (tháng 4 năm 2023), chưa phản ánh được sự biến động tâm lý và ý định hành vi của sinh viên theo tiến trình thời gian dài sau khi tốt nghiệp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng quy mô mẫu sang các trường đại học khối ngành kinh tế và kỹ thuật tại các vùng miền khác nhau để tăng tính đại diện.
- Áp dụng các mô hình phân tích nâng cao như Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để đánh giá đồng thời các mối quan hệ trung gian (ví dụ: niềm đam mê, sự hỗ trợ từ trường đại học).
- Thực hiện nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal study) nhằm theo dõi tỷ lệ chuyển biến thực tế từ "ý định khởi nghiệp" sang "hành vi thành lập doanh nghiệp" sau khi sinh viên ra trường.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh và Kinh tế: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu hàn lâm chuẩn mực, phương pháp thiết kế bảng hỏi Likert 42 biến quan sát và quy trình phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS (Cronbach's Alpha, EFA, OLS).
- Học viên, nhà nghiên cứu về khởi nghiệp: Sử dụng nguồn tài liệu tổng quan toàn diện về lý thuyết TRA, TPB và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về ý định khởi nghiệp tại Việt Nam từ năm 2013 đến 2023.
- Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách: Tham khảo các hàm ý giải pháp thực tiễn trong việc phát triển chương trình môn học Khởi sự kinh doanh, tổ chức các vườn ươm doanh nghiệp và kết nối nguồn vốn hỗ trợ sinh viên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình lý thuyết nền tảng nào để nghiên cứu ý định khởi nghiệp?
Khóa luận sử dụng Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) làm khung lý thuyết cốt lõi, phát triển từ Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975). Mô hình được mở rộng bằng cách bổ sung thêm 4 nhân tố: Đặc điểm tính cách (TC), Nguồn vốn (NV), Giáo dục khởi nghiệp (GD) và Kinh nghiệm (KN) bên cạnh 3 nhân tố gốc của TPB (Thái độ đối với hành vi, Quy chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi).
2. Tác giả xác định kích thước mẫu khảo sát tối thiểu dựa trên những tiêu chuẩn nào?
Kích thước mẫu tối thiểu được xác định dựa trên hai tiêu chuẩn thống kê:
- Theo Hair và cộng sự (2014) cho phân tích EFA: Tỷ lệ quan sát trên biến phân tích tối thiểu là 5:1. Với 42 biến quan sát, quy mô mẫu tối thiểu cần là $42 \times 5 = 210$ mẫu.
- Theo Green (1991) cho phân tích hồi quy: Cỡ mẫu tối thiểu đánh giá từng biến độc lập là $104 + m = 104 + 42 = 146$ mẫu.
Tác giả lấy giá trị lớn hơn ($N \ge \max(146, 210) = 210$) và xác định cỡ mẫu khảo sát kỳ vọng là 241 sinh viên.
3. Nghiên cứu chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu (research gaps) nào so với các đề tài trước?
Tác giả xác định 4 khoảng trống: (1) Thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về sinh viên của một khối ngành/viện đào tạo riêng biệt; (2) Thiếu các phân tích về vai trò của cơ sở đào tạo đại học đối với ý định khởi nghiệp; (3) Chưa làm rõ tác động từ kinh nghiệm làm thêm liên quan đến kinh doanh; (4) Các nghiên cứu trước phần lớn chỉ khảo sát sinh viên năm 3 và năm 4, bỏ sót sinh viên năm 1 và năm 2.
4. Bước nghiên cứu định tính được tác giả thực hiện như thế nào để hoàn thiện bảng hỏi?
Nghiên cứu định tính được tiến hành qua việc tổng quan tài liệu, tham vấn ý kiến Giảng viên hướng dẫn và khảo sát thử nghiệm trên 10 sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh. Kết quả khảo sát thử giúp tác giả phát hiện sinh viên hiểu nhầm khái niệm "thu nhập hàng tháng" là tiền lương đi làm thêm, từ đó điều chỉnh nội dung câu hỏi thành "thu nhập bao gồm cả hỗ trợ tài chính của gia đình" trước khi gửi bảng hỏi chính thức.
5. Những giải pháp trọng tâm nào được đề xuất cho Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế?
Khóa luận đề xuất 5 nhóm giải pháp chính: Nâng cao quy chuẩn chủ quan qua gắn kết gia đình - nhà trường và cựu sinh viên; Xây dựng mạng lưới kết nối nguồn vốn và quỹ khởi nghiệp; Đổi mới nội dung giảng dạy môn Khởi sự kinh doanh gắn liền với trải nghiệm thực tế cuộc thi Business Challenges; Bồi dưỡng đặc điểm tính cách chủ động và tư duy đổi mới sáng tạo; Tuyên truyền nâng cao thái độ tích cực đối với việc tự làm chủ doanh nghiệp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Hồng Diễm đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu thông qua việc vận dụng Thuyết hành vi dự định (TPB) mở rộng để phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính điều chỉnh thang đo và phân tích định lượng trên cỡ mẫu 241 sinh viên trải dài từ năm nhất đến năm tư, công trình đã xác lập cơ sở thực nghiệm vững chắc cho mô hình 7 nhân tố ảnh hưởng. Các phát hiện của đề tài không chỉ góp phần bổ khuyết những khoảng trống lý luận về ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị mà còn cung cấp hệ thống giải pháp thực tiễn cho nhà trường trong việc hoàn thiện chương trình đào tạo và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sinh viên.