CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYÉT VỀ SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC CỦA. NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG 1. KHÁI NIỆM VÈ NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG Đầu tiên, để làm rõ khái niệm về nhân viên văn phòng ta sẽ tìm hiểu khái niệm "văn phòng”. 'Văn phòng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau như sau: - Văn phòng là bộ máy làm việc tổng hợp và trực tiếp trợ giúp cho việc điều hành của ban lãnh đạo một cơ quan, đơn vị.
Theo quan niệm này thì ở các cơ quan thẩm quyền chung, cơ quan đơn vị có quy mô lớn thì thành lập văn phòng (ví dụ Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng “Tổng công ty.) còn ở các cơ quan, đơn vị có quy mô nhỏ thì văn phòng là phòng hành chính tông hợp. - Văn phòng là trụ sở làm việc của một cơ quan, đơn vị, là địa điểm giao tiếp đối nội và đối ngoại của cơ quan đơn vị đó. Từ đó có thẻ thấy văn phòng là trung tâm tiếp nhận, truyền đạt thông tin, phối họp các quy trình hoạt động của tô chức, là trung tâm hoạch định và kiểm soát các hoạt đảm bảo thường nhật và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trong. các hoạt động hoặc dự án; văn phòng bao gồm hai chức năng là giúp việc và tham mưu.
Như vậy nhân viên văn phòng là những người làm việc trong văn phòng của một tổ chức hay doanh nghiệp với hai chức năng cơ bản là giúp việc và tham mưu. Ngoài ra nhân viên văn phòng còn được định nghĩa là người làm việc trong một văn phòng hơn là trong nhà máy (từ điển Cambridge) hay đơn giản hơn là người làm việc trong một văn phòng. Trong luận văn này, nhân viên văn phòng (office worker) được định nghĩa là nhân viên làm việc giờ hành chính trong doanh nghiệp, công ty hoặc tổ chức, bao gồm nhân viên cấp dưới đến nhân viên cấp cao, nhưng không bao gồm chủ doanh nghiệp (từ điển Oxford Advance Learner’s). LÝ THUYÉT VÈ SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC 1.
Khái niệm Có khá nhiều các định nghĩa về sự thỏa mãn của nhân viên đối với công. Theo Vroom (1964) thì cho rằng thỏa mãn trong công việc là sự định hướng cảm xúc của người lao động về vai trò của công việc hiện tại. Một trong những định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất là của Locke (1969) , người đã định nghĩa sự thỏa mãn trong công việc là một phản ứng thoải mái và tích cực về sự đánh giá một công việc, thành tựu công việc hay những kinh nghiệm nghề nghiệp. Smith, Kendall, and Hulin (1969) đã định nghĩa sự thỏa mãn đối với công việc là những cảm xúc hoặc phản ứng tình cảm đối với những khía cạnh của hoàn cảnh.
Theo Speetor (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Tác giả nhắn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm vi cũng như cơ cấu của tổ chức.
Trong khi đó Healthfield - thành viên của Hiệp hội quản lý nguồn nhân lực Hoa Kỳ - cho rằng sự thỏa mãn của nhân viên là một thuật ngữ diễn tả nhân viên có cảm thấy hạnh phúc hay hài lòng và đáp ứng những mong muốn hoặc nhu cầu của họ trong công việc. Nói cách khác nó cũng là động cơ thúc day nhân viên giúp họ đạt được mục tiêu và tạo nên tỉnh thần làm việc. Sự thỏa mãn của nhân viên thường có ý nghĩa tích cực trong tô chức, có thể xem như một liều thuốc hữu hiệu để giữ chân những nhân viên bởi vì họ cảm thấy thỏa mãn với môi trường làm việc. Như vậy, có thể thấy có khá nhiều định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu sự thỏa mãn trong công việc theo au: "Sự thỏa mãn trong công việc là cảm giác, cảm xúc của người lao động về công việc cia ho.
Một số lý thuyết về sự thỏa mãn công việc làm cơ sở nghiên cứu Nghiên cứu sự thỏa mãn công việc thường được các nhà nghiên cứu gắn liền với các lý thuyết về động viên và sự thỏa mãn công việc. Sau đây là tóm tắt một số lý thuyết đáng lưu ý. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Thuyết nhu cầu của Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung. Cho đến nay, chưa có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này.
Theo Abraham Maslow nhu cầu của con người được phân thành năm nhóm đó là các nhu cầu về “Sinh lý”; “An toàn”; "Xã hội”; "Được tôn trọng” và "Tự hoàn thiện”. Nhu cầu tự thể hiện mình Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cau sinh | Hình 1. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đây nữa.
~ Nhu câu sinh lý (Vật chất): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (Thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở.Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đây được mọi người. ~ Như câu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mắt việc, mắt tài sản. - Nhu câu xã hội (vẻ liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó.
Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. ~ Như cầu được tôn trọng: Theo A.Maslow, khi con người bắt đầu thỏa 10 mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội.
Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn vọng và kính nề. ~ Như cẩu tự hoàn thiện: A.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong. cách phân cấp của ông.
Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng.
Thuyết nhu cầu tếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow giúp các nhà lãnh đạo hiểu được. nhân viên đó đang ở cắp độ nhu câu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu, từ đó đưa ra giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu đó của họ đề chính sách tạo động lực đạt kết quả cao nhất và giữ được nhân viên làm việc với tổ chức và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội.
Theo đó, tháp nhu cầu có thể được hiểu như sau trong một tổ chức, doanh nghiệp. Giải thích các yếu tố của tháp nhu cầu trong tổ chức Mức nhu câu "Thể hiện trong tô chức, doanh nghiệp Nhu cau — [Nhu câu về lương và các Khoản phúc lợi khác như sinh lý thưởng, các chuyến tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng. (vật chất) : Mong muốn làm việc trong môi trường điều kiện làm Nhu cầu cà có _ : việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì én định an toàn và được đối xử công bằng. Nhân viên cân được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, Nhu cầu xã hội | được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các phòng, ban, bộ phận, tổ chức các hoạt động vui choi.
Nhu câu — [Nhân viên cân được tôn trọng các giá trị về con người. được tôn trọng i Mong muôn những cơ hội phát triên thể mạnh cá nhân. Đồng thời nhân viên cần được đào tạo và phát triển,được tự hoàn thiện khuyến khích tạo điều kiện để tự phát triển nghề nghiệp. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại là các nhân tố động viên và các nhân tổ duy trì.
- Nhóm yếu tố thúc đây: Các yếu tố thúc đây là các yếu tố thuộc bên trong công việc. Đó là các nhân tố tạo nên sự thỏa mãn, sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản thân công việc của người lao động, trách nhiệm và chức năng lao động, sự thăng tiến. Đây chính là 5 nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc. Đặc điểm của nhóm này là nếu không được thỏa mãn thì dẫn đến bắt mãn, nếu được thỏa mãn thì sẽ có tác dụng tạo động lực.
- Nhóm yếu tố duy trì: Đó là các yếu tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động, các chính sách chế độ quản trị của doanh nghiệp, tiền lương, sự hướng dẫn công việc, các quan hệ với con người, các điều kiện làm 12 việc. Các yếu tố này khi được tô chức tốt thì có tác dụng ngăn ngừa sự không. thỏa mãn đối với công việc của người lao động. Các nhân tổ duy trì và động viên Các nhân tổ duy trì Các nhân tỗ động viên 1.
Phương pháp giám sát 1.