phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về động lực lao động và các nhân tố ảnh hƣởng tới động lực lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng động lực lao động và các nhân tố ảnh hƣởng tới động lực lao động tại Công ty Cổ phần đầu tƣ và công nghệ Đại Việt Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cƣờng động lực lao động cho nhân viên tại Công ty Cổ phần đầu tƣ và công nghệ Đại Việt 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm có liên quan.1 Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu “ Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn. Nhu cầu là trạng thái tâm sinh lý của con người nhằm mong muốn đạt được điều gì đó. Nhu cầu được phân loại theo nhiều cách: Căn cứ vào tính chất: Bản chất con người là một thực thể tự nhiên – xã hội nên nhu cầu của con người cũng có nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội. - Nhu cầu tự nhiên: Là những nhu cầu bẩm sinh mang tính vật chất, sinh học như ăn, uống, nhà ở, mặc, ngủ, sinh đẻ,.
- Nhu cầu xã hội: Là những nhu cầu được tập nhiễm mang tính chất tinh thần do học tập mà có như nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin, nhu cầu hiểu biết, thưởng thức cái đẹp, cảm thụ cái hay, sự cảm thông, đồng tình,. Giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Lúc đầu nhu cầu vật chất là cần thiết hơn nhưng khi đã đạt đến một mức độ nhất định thì nhu cầu tinh thần trở nên quan trọng hơn. Căn cứ vào mức độ thỏa mãn thì nhu cầu gồm 2 loại: - Nhu cầu bậc thấp: Là những nhu cầu đòi hỏi mức độ thỏa mãn thấp: ăn no, mặc ấm, có chỗ ở,.
- Nhu cầu bậc cao: Là những nhu cầu đòi hỏi mức độ thỏa mãn cao: ăn ngon, mặc đẹp, theo mốt, chỗ ở sang trọng,. Theo hệ thống thang bậc nhu cầu của A. Maslow thì ở con người có 5 loại nhu cầu được sắp xếp theo trình tự từ thấp đến cao:” 8 Hình 1.1 Tháp nhu cầu A. Maslow Nguồn: Abraham Maslow (1943), A Theory of Human Motivation - Nhu cầu tự nhiên (sinh lý): Là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, mặc, duy trì và phát triển nòi giống,.
- “Nhu cầu về sự an toàn: An toàn về sức khỏe, tính mạng, công ăn việc làm, an ninh, chuẩn mực, luật lệ,. - Nhu cầu xã hội: Là các nhu cầu về tình yêu, sự liên kết, được chấp nhận,. - Nhu cầu tự trọng: Nhu cầu được người khác tôn trọng, địa vị,. - Nhu cầu tự thể hiện: Là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước,.
Maslow lại nhóm gộp 5 thang bậc trên thành 2 cấp: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp thấp là nhu cầu sinh lý và an toàn. Loại này được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài và dễ thỏa mãn hơn bởi lẽ nó có giới hạn. Còn các nhu cầu cấp cao bao gồm 3 loại còn lại: nhu cầu xã hội, tự trọng và tự thể hiện được thỏa mãn chủ yếu là tự nội tại con người.G Clayton Alderfer giáo sư Đại học Yale cho rằng: Hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu.
Cùng một lúc con người theo đuổi việc thỏa mãn 3 nhu cầu cơ bản: 9 - Nhu cầu tồn tại: Bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và an toàn của Maslow. - Nhu cầu quan hệ: Là những đòi hỏi về những quan hệ và tương tác qua lại giữa các các cá nhân, bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng. - Nhu cầu phát triển: Là đòi hỏi bên trong mỗi một con người cho sự phát triển bản thân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng của Maslow. Điều kiện khác biệt ở lý thuyết này là Alderfer cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn tất cả các nhu cầu chứ không phải chỉ một nhu cầu như quan điểm của Maslow.
Hơn nữa, thuyết này cho rằng một khi nhu cầu nào đó bị cản trở con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu khác. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và dốc nỗ lực cho đầu tư, cho tương lai nhiều hơn.2 Động lực lao động “ Maier & Lawler (1973) cho rằng: Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Theo Kreitner (1995): Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Theo Bedeian (1993) cho rằng: Động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu.
Higgins (1994) cho rằng: Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn.” Theo Robbins (2001): “Động lực là một quá trình đáp ứng nhu cầu, có nghĩa là khi nhu cầu của một cá nhân được thõa mãn hoặc được thúc đẩy bởi các yếu tố nhất định, cá nhân sẽ phát huy nỗ lực cao đối với việc đạt được mục tiêu của tổ chức”. Khi bàn về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thường thống nhất ở một số điểm sau: Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. “ Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực.
10 Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Người lao động nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng rời xa tổ chức. Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo, điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực lao động cho nhân viên.Belker và Gary S.
Topchik, động lực lao động là khiến mọi người muốn làm những việc họ mong đợi, sẵn lòng thực hiện mà không hề bị ép buốc. Còn Kreiter lại cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Ở Việt Nam, trong giáo trình hành vi tổ chức của Phạm Thúy Hương, Phạm Thị Bích Ngọc (2016), tác giả cho rằng động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa tổ chức, các chính sách về nhân lưc hay kiểu lãnh đạo. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng là yếu tố quan trọng, không thể không nói đến trong việc tạo động lực lao động cho chính họ như: Nhu cầu, mong muốn cũng như quan điểm sống…. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực, nhưng tất cả đều nói lên bản chất của động lực là làm những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó.
Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản hồi bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ.” 11 Vậy động cơ lao động là gì và đươc biểu hiện như thế nào? Động cơ lao động được thể hiện: -”Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động. Vì thu nhập là mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức độ nào đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình. - Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thể hiện mình thông qua tập thể.
Khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội. Như vậy, động cơ và động lực lao động có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau. Động cơ là cơ sở, tiền đề hình thành nên động lực lao động, ngược lại động lực lao động sẽ góp phần củng cố động cơ lao động. Động cơ lao động là cái dẫn dắt thúc đẩy con người đi tìm cho mình một công việc phù hợp và trong quá trình làm việc dưới sự tác động của nhiều yếu tố thì động lực lao động có thể xuất hiện với các mức độ khác nhau.” “ Mối quan hệ giữa động cơ và động lực giúp các nhà quản trị có biện pháp tạo động lực cho người lao động khi đã nắm bắt được động cơ của họ.
Qua đó, để đạt được hiệu quả lao động cao thì các nhà quản lý phải xác định được động cơ của người lao động, hay nói cách khác là phải xác định được nhu cầu của người lao động ở từng giai đoạn phát triển của họ. Từ đó có thể dưa ra những phương án để thỏa mãn những nhu cầu đó một cách hợp lý nhằm tạo động lực cho người lao động một cách hiệu quả nhất guồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người.