CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Theo Likert thì trong tất cả các nhiệm vụ của quản trị, quản trị con người là nhiệm vụ trung tâm và quan trọng nhất, vì tất cả các vấn đề khác đều phụ thuộc vào mức độ thành công của quản trị con người [17]. Với tầm quan trọng đặc biệt của nguồn nhân lực, hầu hết các nhà quản trị đều mong muốn làm sao để phát huy hết hiệu quả của nguồn lực này. Đó là lý do để nghiên cứu hướng tới mục đích nâng cao sự thỏa mãn công việc cho người lao động tại các đơn vị, tổ chức hoạt động trong ngành hàng không dân dụng Việt Nam. Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về sự thỏa mãn công việc của người lao động, bao gồm các khái niệm khác nhau về thỏa mãn công việc, các học thuyết về nhu cầu và động viên.
Ngoài ra, một số nghiên cứu về thỏa mãn công việc cũng như các thang đo trong các nghiên cứu đó cũng được trình bày để đề xuất mô hình và các giả thiết nghiên cứu của đề tài. Sự thỏa mãn công việc Con người là yếu tố quan tâm hàng đầu trong tất cả các hoạt động, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh. Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới về thỏa mãn công việc, trong các nghiên cứu lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc (job satisfaction). Có thể kể ra như: Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào.
Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Còn Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao [10]. Schemerhon (1993) định nghĩa sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên.
Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí - 14 - công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. [10 ] Như vậy, mặc dù có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có sự thỏa mãn công việc thì người đó sẽ có cảm xúc, suy nghĩ và hành động tích cực đối với công việc của mình.
Lý thuyết về thỏa mãn công việc 1. Frederick Herzberg với “2 factors theory” (thuyết 2 nhân tố). Thuyết hai nhân tố được đưa ra bởi Frederick Herzberg, nhà tâm lý học người Hoa Kỳ. Ông đưa ra hai tập hợp các yếu tố thúc đẩy công nhân làm việc và gọi tập hợp thứ nhất là "yếu tố duy trì" – nếu thiếu nó thì sẽ tạo ra sự “bất mãn” của nhân viên; tập hợp thứ hai là “yếu tố thúc đẩy” – nếu có nó thì sẽ tạo ra “sự thỏa mãn” [15].
Cụ thể là: - Nhân tố nhân tố duy trì (Hygiene factors): Nhóm này chỉ có tác dụng duy trì trạng thái tốt; tuy nhiên chúng không làm cho con người làm việc tốt hơn. Khi các yếu tố này được thỏa mãn, đôi khi những người công nhân lại coi đó là điều tất nhiên. Nhưng nếu không có nó, họ sẽ trở nên bất mãn và do đó, sản xuất bị giảm sút. Các nhân tố đó cụ thể là: + Chính sách của tổ chức + Sự giám sát trong công việc + Các điều kiện làm việc + Lương + Quan hệ với đồng nghiệp + Quan hệ với thuộc cấp - 15 - - Nhân tố hài lòng (motivator factor): Đối với các nhân tố động viên nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn từ đó động viên người lao động làm việc tích cực, chăm chỉ hơn.
Nhưng nếu không được giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa mãn chứ chưa chắc gây bất mãn. Những yếu tố đó cụ thể như: + Đạt kết quả, thành tựu + Sự thừa nhận + Tự làm + Trách nhiệm + Sự tiến bộ/thăng cấp + Sự tăng trưởng, phát triển 1. Douglas McGregor với Lý thuyết X và Lý thuyết Y. Thuyết X: Là lý thuyết máy móc và thiên hướng tiêu cực về con người và hành vi con người [14].
Thuyết X cho rằng: - Con người bản chất không thích làm việc và luôn trốn tránh khi có thể. - Cần phải thưởng nếu muốn họ làm việc và trừng phạt khi họ không làm việc. - Con người thích bị kiểm soát, nếu bị kiểm soát mới làm việc tốt. Tuy có cái nhìn tiêu cực và trên thực tế dường như không có kết quả đúng 100%, nhưng Thuyết X vẫn đúng trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi ứng dụng vào các ngành sản xuất, dịch vụ.
Vì vậy, thuyết này luôn là một thuyết kinh điển, không thể bỏ qua để đào tạo, huấn luyện về quản trị nhân sự trong tất cả các trường lớp. Thuyết Y: Là lý thuyết linh động và thiên hướng tích cực về con người và hành vi con người. Thuyết Y cho rằng: - Con người bản chất thích làm việc và không trốn tránh khi có thể. Con người muốn và có thể học cách gánh vác trách nhiệm.
- Con người làm việc theo nhóm, thích tự định hướng và làm chủ. Con người sẽ gắn với nhóm nếu họ đạt được sự thỏa mãn cá nhân. - 16 - - Tài năng con người luôn tiềm ẩn, vấn đề quan trọng là biết khơi dậy. - Không cần phải thưởng nếu muốn họ làm việc và không đánh giá cao việc trừng phạt khi họ không làm việc.
Thuyết này cho rằng con người luôn có khát vọng, tự khả năng tự khích lệ bản thân, có khả năng nhận những bổn phận lớn hơn, có khả năng tự chủ, tự trị. Con người không thích bị kiểm soát, nếu không bị kiểm soát mới làm việc tốt. Thuyết Y đúng trong nhiều trường hợp nhưng cũng không tuyệt đối. Các công ty sử dụng người lao động có trình độ cao và làm công việc có nhiều tính sáng tạo như Apple, Microsoft, Google.
đều theo thuyết Y. Đại đa số mọi người mong các nhà quản lý cải thiện điều kiện làm việc theo hướng này. Lý thuyết kiểu Nhật (Japan Style) và “Lý thuyết Z” Thuyết Z còn được biết đến dưới cái tên "Quản lý kiểu Nhật". Thuyết Z chú trọng vào việc gia tăng sự trung thành của người lao động với công ty bằng cách tạo ra sự an tâm và mãn nguyện cho người lao động cả trong và ngoài khi làm việc.
Thuyết Z cũng có những điểm yếu căn bản và nhất là tạo ra sức ỳ lớn trong các công ty Nhật. [21] Cốt lõi của thuyết này là làm thỏa mãn và gia tăng tinh thần cho người lao động để đạt được năng suất chất lượng trong công việc. Cụ thể như: - Chế độ làm việc suốt đời. - Đo đếm, đánh giá chi li, rõ ràng, song song biện pháp kiểm soát tế nhị, mềm dẻo, giữ thể diện cho người lao động.
- Làm việc với nhau như một nhóm, ra quyết định và chịu trách nhiệm tập thể. - Quan tâm đến tất cả các vấn đề của người lao động, kể cả gia đình họ. Con cái được ưu tiên tuyển dụng, được có học bổng. - Tạo ra mối quan hệ phối hợp các cá nhân lại với nhau để đạt được mục tiêu của nhóm, của tổ chức.
Để một nhóm người có năng lực tạo ra lực lượng chủ chốt. - Tạo ra bầu không khí thân mật nơi làm việc như trong gia đình. - Sắp xếp di chuyển nhiều vị trí công việc khác nhau trước khi đề bạt thăng tiến. Abraham Maslow và Lý thuyết thứ bậc nhu cầu.
Năm 1943, Maslow phát triển lý thuyết về “Thứ bậc nhu cầu” của con người (Hierarchy of Needs) gồm 5 cấp bậc. Ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc theo hình kim tự tháp, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước [13]. Nhưng bản hoàn chỉnh và đầy đủ nhất của lý thuyết này được đưa ra vào năm 1954, 5 thứ bậc nhu cầu đó lần lượt là: 1. Nhu cầu cơ bản (basic needs) 2.
Nhu cầu an toàn (safety needs) 3. Nhu cầu xã hội (social needs) 4. Nhu cầu được tôn trọng (esteem needs) 5. Nhu cầu thể hiện mình (seft – actualizing needs) Hình 1.
Tháp nhu cầu của Maslow – 5 cấp bậc Sau đó, vào năm 1990, Maslow hiệu chỉnh lý thuyết này thành 8 bậc1. Trong đó kế thừa cả 5 nhu cầu đã có, bổ sung thêm 3 nhu cầu bậc cao nữa, đó là: 1. Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs): nhu cầu học hỏi, hiểu biết 2. Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs) 3.
Nhu cầu về tự tôn bản ngã (self- transcendence). 1 Cho tới nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về tính chính thức của lần hiệu chỉnh sau của Maslow. Chính vì vậy trên thực tế, lý thuyết “Thứ bậc nhu cầu” gồm 5 cấp bậc vẫn được công nhận rộng rãi và chính thức hơn. - 18 - Trên thực tế, các nhu cầu không phải lúc nào cũng xuất hiện theo thứ bậc như Maslow đã đề nghị mà tùy thuộc nhiều vào cá nhân và hoàn cảnh.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhu cầu con người còn tùy thuộc nhiều vào các yếu tố khác như: giai đoạn nghề nghiệp, quy mô của tổ chức và vị trí địa lý, nền văn hóa v.v… Theo thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow, các nhà quản lý ở các đơn vị ngành hàng không dân dụng phải hiểu được người lao động hiện đang ở cấp độ nhu cầu nào, thứ tự các nhu cầu đó có giống như lý thuyết của Maslow không? Từ đó mới có cơ sở để có thể thỏa mãn chính xác và kịp thời nhu cầu của người lao động, nâng cao sự thỏa mãn công việc của họ, nâng cao hiệu quả công việc của đơn vị.