chương 1 là tìm ra khoảng trống để định hướng thực hiện nghiên cứu tiếp theo. Để đạt mục tiêu này cần phải tổng hợp những nghiên cứu có liên quan, từ đó có cơ sở để biện luận khoảng trống nghiên cứu, hình thành câu hỏi nghiên cứu đủ sức thuyết phục, và nhận diện những đóng góp của luận án so với những nghiên cứu khác (Snyder, 2019). Nội dung chương này gồm: - Tổng quan những nghiên cứu ở nước ngoài; - Tổng quan những nghiên cứu ở Việt Nam; - Nhận diện khoảng trống nghiên cứu; - Hướng nghiên cứu của luận án. Tổng quan nghiên cứu ở nƣớc ngoài Căn cứ kết quả tìm kiếm tài trên các cơ sở dữ liệu học thuật về chủ đề nghiên cứu, nội dung này được chi tiết theo từng dòng nghiên cứu, bao gồm: (1) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ, (2) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ và (3) nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ.
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ. Theo Julnes và Holzer (2001), thực hành đo lường TQHĐ là một quá trình gồm ít nhất hai bước: bước phát triển (adoption phase) và bước sử dụng (implementation phase). Bước phát triển là giai đoạn vận dụng kiến thức để chuận bị các hoạt động đo lường như: lựa chọn các tiêu chí đo lường, lập kế hoạch đo lường. Bước sử dụng đề cập đến cách sử dụng các thông tin TQHĐ để hoạch định chiến lược, phân bổ nguồn lực, quản lý, giám sát, đánh giá cho mục đích quản trị nội bộ, hoặc báo cáo cho các cơ quan chức năng, công dân hay công bố trên phương tiện truyền thông.
Như vậy, sử dụng thông tin TQHĐ thuộc bước thứ hai của quá trình thực hành đo lường TQHĐ. Suốt những thập kỷ gần đây, cải cách khu vực công yêu cầu các tổ chức đo lường và giám sát các mục tiêu chiến lược cũng như những thành tựu đạt được 11 (Moynihan, 2005). Tuy nhiên, dữ liệu thu từ hoạt động này không tự động nâng cao TQHĐ của tổ chức, cần phải hiểu những dữ liệu này sẽ mang lại tác dụng gì sau khi nó được báo cáo và đánh giá, nói cách khác là những thông tin này sẽ được sử dụng như thế nào (Van Dooren & Van de Walle, 2008). Các nhân tố kích thích hoặc cản trở việc sử dụng thông tin TQHĐ trong khu vực công được đề cập khá đa dạng, tổng quan về dòng nghiên cứu này được trình bày nhóm theo từng nhân tố nhằm nắm bắt các thông tin về bối cảnh, phương pháp thực hiện và kết quả được tìm thấy.
Lần lượt các nhân tố được trình bày gồm: đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ, sự tham gia của các bên liên quan, cam kết của lãnh đạo, văn hóa tổ chức, thái độ đối với thông tin TQHĐ, động lực phụng sự công, sự tự chủ, diễn đàn học tập, mạng lưới kết nối, tính rõ ràng của mục tiêu hoạt động, phong cách lãnh đạo, việc thể chế hóa đo lường TQHĐ, chính trị. Đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ Melkers và Willoughby (2005) nghiên cứu ở Mỹ và kết luận rằng khi hệ thống đo lường TQHĐ được thiết kế cẩn thận, rõ ràng sẽ có tác động đáng kể đến tính hợp lý của các quyết định về ngân sách, vì thế thông tin TQHĐ sẽ được sử dụng ở mức cao hơn. Để được sử dụng thường xuyên, những chỉ tiêu đo lường cần phải phù hợp với mục tiêu quản lý, phản ánh đầy đủ cả về kết quả và hiệu quả thay vì chỉ thể hiện khối lượng công việc đầu ra (Ammons & Rivenbark, 2008; Moynihan & Pandey, 2010). Ngoài ra, Taylor (2009) cũng cho rằng mức độ sử dụng thông tin TQHĐ chịu ảnh hưởng bởi khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin cho người dùng khi khảo sát các cơ quan công quyền ở Úc.
Bên cạnh đó, Kroll và Proeller (2013) nghiên cứu tình huống trong các cơ quan chăm sóc sức khỏe ở Đức đã bổ sung thêm rằng sự chi tiết của các tiêu chí TQHĐ và sự đa dạng của những thước đo sẽ ảnh hưởng tích cực đến khả năng sử dụng thông tin TQHĐ, Lee (2020) cũng có kết luận tương tự khi khảo sát trong các tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ. Không đề cập thẳng đến đặc điểm của hệ thống đo lường nhưng Kroll (2015b) đã khẳng định ảnh hưởng của chất lượng dữ liệu TQHĐ đến hành vi sử dụng các dữ liệu này theo cách lý giải của lý thuyết hành vi theo dự định (Theory of Planned Behavior), khi nhà quản lý có ý định sử dụng dữ liệu TQHĐ thì họ có những biện pháp hỗ trợ thu thập thông tin có 12 giá trị và chất lượng, và nếu thông tin đảm bảo các tiêu chuẩn này thì sẽ tiếp tục thúc đẩy hành vi sử dụng của nhà quản lý. Gần đây, Dimitrijevska‐ Markoski và French (2019) đã phát hiện ra tính đầy đủ của hệ thống đo lường có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ thông qua việc thể chế hóa việc thực hành đo lường TQHĐ của các tổ chức công ở Mỹ. Sự tham gia của các bên liên quan Berman và Wang (2000) khảo sát các cơ quan cấp quận ở Mỹ và kết quả cho thấy thông tin TQHĐ được sử dụng phổ biến là nhờ sự ủng hộ của các nhà quản lý cho hoạt động đo lường TQHĐ.
Tiếp theo, nghiên cứu của Yang và Hsieh (2007) ở Đài Loan, tác giả đã vận dụng lý thuyết tầm trung (Middle-range theory) đề xuất mô hình dạng cấu trúc tuyến tính và cho kết quả tương tự. Ngoài ra, chuyên môn của nhà quản lý, sự ủng hộ của những chính trị gia và công dân cho việc thực hành đo lường TQHĐ cũng ảnh hưởng đến mức độ sử dụng dữ liệu TQHĐ (Rivenbark và cộng sự, 2019; Wang & Berman, 2001). Xét bên ngoài tổ chức, các chính trị gia và công dân là những bên liên quan quan trọng, vì thế sự tham gia của họ vào qui trình đo lường sẽ giúp nâng cao tần suất sử dụng cũng như tính hữu ích của hệ thống đo lường TQHĐ (Yang & Hsieh, 2007), điều này còn được kiểm chứng trong một số nghiên cứu khác (ví dụ Bourdeaux & Chikoto, 2008; Ho, 2006; Melkers & Willoughby, 2005). Xét bên trong tổ chức, khi cả nhà quản lýcũng như nhân viên chấp nhận, sẵn sàng thực hiện các biện pháp đo lường TQHĐ thì các dữ liệu từ việc đo lường này sẽ được sử dụng thường xuyên hơn (Boyne và cộng sự, 2004; Folz, Abdelrazek, & Chung, 2009).
Khác với các nghiên cứu đã nêu, kết quả hồi qui của Taylor (2011) lại cho rằng sự hỗ trợ của các bên liên quan không có liên quan đáng kể đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ. Cam kết của lãnh đạo Lãnh đạo có vai trò cốt yếu trong quá trình cải cách khu vực công (Dull, 2009). Sử dụng dữ liệu phỏng vấn từ 50 bang của Mỹ, bằng phương pháp hồi qui OLS (Ordinary Least Square), Moynihan và Ingraham (2004) xác nhận vai trò quan trọng của lãnh đạo tích hợp (intergrative leadership) trong nỗ lực cải cách khu vực 13 chính phủ mà trọng tâm là thực hiện quản trị theo kết quả, bao gồm cả đo lường TQHĐ. Việc triển khai, áp dụng các kỹ thuật đo lường và sử dụng các dữ liệu TQHĐ trong các cơ quan công vụ ở Mỹ còn chịu tác động tích cực từ cam kết của quản lý cấp cao đối với mục tiêu của đơn vị, cam kết của quản lý cấp cao sẽ ảnh hưởng đến mức độ nhân viên cảm thấy có trách nhiệm với kết quả và mức độ họ sử dụng thông tin cho quá trình ra quyết định (Cavalluzzo & Ittner, 2004).
Văn hóa tổ chức Đối với một tổ chức, chấp nhận và triển khai đo lường TQHĐ sẽ gây ra sự không chắc chắn vì những rủi ro có liên quan, điều này có thể là nguyên nhân cho sự phản kháng, gây cản trở đến việc sử dụng các thông tin TQHĐ cho quá trình quản trị (Julnes & Holzer, 2001). Vì vậy, khi tổ chức có tồn tại một hệ thống kích thích sự đổi mới, sáng tạo và ―chấp nhận rủi ro‖ thì sẽ làm thay đổi cảm nhận của cá nhân đối với sự đổi mới nói chung và đo lường các thành tích đạt được nói riêng, tạo thuận lợi cho việc chấp nhận và thực hiện đo lường TQHĐ (Julnes & Holzer, 2001). Khi nhân viên hiểu rõ về tầm nhìn, sứ mệnh và kế hoạch của tổ chức (mission oriented) thì sẽ thúc đẩy cơ chế học tập của tổ chức diễn ra liên tục và hiệu quả hơn, đây là kết quả hồi qui đa biến từ dữ liệu khảo sát trong các tổ chức công của Mỹ (Moynihan & Landuyt, 2009). Trong một nghiên cứu khác của Johansson và Siverbo (2009) ở Thụy Điển, tác giả nhấn mạnh ảnh hưởng của khuynh hướng chấp nhận sự thay đổi và sự chủ động trong quá trình tìm kiếm phương pháp đánh giá phù hợp.
Đây là một khía cạnh thuộc về văn hóa, tương đồng với khía cạnh ―chấp nhận rủi ro‖ theo lập luận của Julnes và Holzer (2001) và ―văn hóa phát triển‖ theo cách tiếp cận của Moynihan và Pandey (2010), Lee (2020). Ngoài ra, ảnh hưởng của yếu tố văn hóa tổ chức đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ còn được phản ánh bởi Taylor (2011) khi nghiên cứu ở Úc. Thái độ đối với thông tin TQHĐ Những nghiên cứu đã xác nhận việc sử dụng thông tin TQHĐ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với các thông tin này. Ho (2006) khảo sát 281 thị trưởng của các thành phố ở Mỹ, kết quả thống kê mô tả phản ánh rằng nhận thức của nhà quản lý là 14 tác nhân có ảnh hưởng đáng kể đến thực hành quản trị theo kết quả, khi các nhà quản lý không nhiệt tình với vấn đề đo lường TQHĐ và cho rằng lợi ích từ việc đầu tư nguồn lực vào công cụ này là không xứng đáng thì họ sẽ đánh mất sự nhiệt tình đối với công cụ này.
Mặt khác, Ammons và Rivenbark (2008) nghiên cứu ở Mỹ cũng cho rằng giá trị của việc đo lường TQHĐ thể hiện ở hai khía cạnh, đó là hỗ trợ tổ chức giải trình kết quả với các bên liên quan và cải thiện dịch vụ, khi các tổ chức chính quyền thành phố tin tưởng rằng các khía cạnh này đạt được thì họ sẵn sàng sử dụng dữ liệu điểm chuẩn (benchmaking). Nếu các tổ chức nhận thức được rằng thông tin TQHĐ thật sự cần thiết và hữu ích đối với tổ chức thì sử dụng công cụ này thường xuyên hơn (Kroll, 2015b; Taylor, 2011).