Chương 1 đã đề cập đến các khía cạnh quan trọng của đề tài, từ sự cần thiết của việc nghiên cứu đến mục tiêu và nhiệm vụ cũng như vấn đề nghiên cứu và các câu hỏi mà nghiên cứu cố gắng giải quyết. Đồng thời, nó đã xác định rõ đối tượng và phạm vi của nghiên cứu, phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu, dữ liệu được sử dụng, và đóng góp cụ thể của nghiên cứu. Chương này không chỉ là một khía cạnh khoa học mà còn mang tính thực tiễn cao, là nền tảng cho việc tiếp tục thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo. Nó mở ra những cơ hội để khám phá sâu hơn về cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và quá trình thu thập dữ liệu.
Qua đó, chúng ta có thể đạt được kết quả nghiên cứu cụ thể và hữu ích, từ đó đề xuất những ý kiến quản trị hiệu quả. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về ý định sử dụng 2. Thanh toán điện tử (E-Payment) Thanh toán điện tử (E-Payment) là một hệ thống cung cấp các công cụ để thanh toán dịch vụ hoặc hàng hóa được thực hiện trên internet (Gandawati, 2007).
Sử dụng hệ thống thanh toán điện tử mang lại nhiều lợi ích cho người thanh toán, người được thanh toán, thương mại điện tử, ngân hàng, các tổ chức và chính phủ. Những lợi ích này có thể dẫn đến các hệ thống thanh toán điện tử phổ biến trên thế giới (Roy & Sinha, 2014). Hệ thống thanh toán điện tử hiệu quả và đáng tin cậy cho phép thanh toán nhanh hơn, theo dõi tốt hơn, giao dịch minh bạch, giảm thời gian sử dụng, tiết kiệm chi phí và tăng niềm tin giữa người bán và người mua (Junadi, 2015). Sự phát triển và áp dụng công nghệ trong hệ thống thanh toán điện tử liên quan đến các giao dịch tài chính, người dùng đồng hóa và công nghệ thanh toán điện tử chất lượng có xu hướng định hình nhận thức và kỳ vọng của riêng họ (Hami và Cheng, 2002).
Hệ thống thanh toán điện tử hiện nay được sử dụng phổ biến như giao dịch qua ATM, sử dụng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ, thông qua ngân hàng trực tuyến và ngân hàng di động. Thanh toán điện tử cung cấp tiết kiệm chi phí đáng kể khi thanh toán trên giấy tờ (Premchand và Choudhry, 2015). Đối với tác giả Singh và Sinha (2020), ví điện tử hoặc ví di động là một ứng dụng được phát triển bởi ngân hàng được ủy quyền để thực hiện các giao dịch không dùng tiền mặt. Ví điện tử có thể hiểu tương tự như ví thật, nó sử dụng thẻ điện tử được liên kết từ các ngân hàng khác nhau, cho phép một cá nhân thực hiện các giao dịch trực tuyến bằng cách sử dụng các thiết bị di động (điện thoại thông minh, máy tính,.
Thanh toán qua ví điện tử được coi là một trong những phương thức giao dịch nổi bật hiện nay vì một giao dịch điện tử sử dụng ví điện tử mang lại lợi thế từ việc 7 sử dụng dễ dàng, linh hoạt và bảo mật (Uddin và Akhi, 2014). Ví di động thay thế phương thức thanh toán truyền thống bằng điện thoại thông minh cài đặt ứng dụng điện thoại được trang bị thông tin thẻ ngân hàng khác nhau trong một ví, cho phép người dùng lưu trữ tiền và thực hiện các giao dịch trực tiếp từ ứng dụng (Sharma và cộng sự, 2018). Nhìn chung, giao dịch qua ví điện tử đều được bảo vệ bằng mật khẩu và chúng được liên kết với tài khoản ngân hàng của một người cho các giao dịch thanh toán trực tuyến như hiện nay. VĐT ngày càng phổ biến dẫn đến cung cấp số lượng lớn các dịch vụ trong lĩnh vực giao thức ăn, thanh toán hóa đơn và các dịch vụ đặc thù khác (Rosnidah và cộng sự, 2019).
Nó không chỉ thuận lợi cho người mua, thương nhân đang dần chấp nhận VĐT như một phương thức thanh toán vì quy trình giao dịch nhanh nhất, quản lý tiền mặt hiệu quả và chi phi lao động thấp hơn (Hayashi và Bradford, 2014). Bên cạnh đó là thanh toán trả trước trên các sàn TMĐT phổ biến như hiện tại. Dựa trên các tài liệu trên nó có thể được mô tả rằng việc sử dụng VĐT ở thanh niên chủ yếu là do khả năng tương thích của nó, linh hoạt và giao dịch thân thiện với người dùng được thực hiện bằng các thiết bị thông minh. Ý định sử dụng dịch vụ Ý định là một quá trình tư duy trong tình huống, liên quan đến những trải nghiệm từ hành vi cá nhân đối với một mục tiêu hoặc hành động nhất định theo Gerbing và Anderson (1988).
Theo khái niệm này, ý định đóng vai trò là một cầu nối giữa suy nghĩ và hành động, qua đó người ta phân tích kỹ lưỡng suy nghĩ của mình trước khi quyết định thực hiện một hành vi. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình suy nghĩ trước khi hành động, cho thấy ý định không chỉ là một dự định mơ hồ mà là kết quả của một quá trình cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng các lựa chọn và kết quả tiềm năng. Theo Ajzen (1991) chỉ ra rằng, ý định được xem là “ gồm nhiều nhân tố động cơ có tác động đến hành vi của mỗi cá nhân, các nhân tố này chỉ ra rằng sự sẵn sàng hoặc nỗ lực mà từng cá nhân sẽ đưa ra để tiến hành hành vi”. Ý định là sự chuyển động có xu hướng (thiếu) thứ bên trong.
Định nghĩa này có nghĩa là hành động này định hướng cho mục tiêu. Trên cơ sở này thì ý định là chất xúc tác cho việc đưa ra 8 quyết định của một cá nhân. Kureger (1993) cho rằng: "Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai”. Ngày nay thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng ý định là một tiền đề của hành vi dự định (Kureger và cộng sự, 2000) và ý định là những phán đoán cho dự tính tốt nhất về hành vi sẽ thực hiện.
Cùng với sự thay đổi của thời gian và bối cảnh nghiên cứu mới thì Kureger (2003) có thêm một định nghĩa “Ý định là trạng thái cảm nhận ngay trước khi tiến hành một hành vi.” Theo như khái niệm, một người có ý định thực hiện hành vi là người có nhận thức và suy nghĩ rõ ràng về mục đích và phương tiện thực hiện hành vi đó. Quyết định sử dụng dịch vụ Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu dùng và cụ thể là quyết định của khách hàng đối với việc mua hay tham gia một sản phẩm dịch vụ nào đó. Bennett (1988), hành vi người tiêu dùng được định nghĩa là các hoạt động mà người tiêu dùng thực hiện trong quá trình tìm kiếm, mua, sử dụng, và đánh giá các sản phẩm và dịch vụ mà họ kỳ vọng sẽ thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách người tiêu dùng tương tác với thị trường và các nhà cung cấp, cũng như cách họ đưa ra quyết định dựa trên nhu cầu và kỳ vọng của bản thân.
Đề cập đến quyết định mua hoặc tham gia một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, hay hành vi mua tham gia, có một số mô hình lý thuyết đã được đề cập trước đây như mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA), mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB). Từ đó có thể thấy. Ý định được xác định là động lực ảnh hưởng đến hành vi, ý định mạnh mẽ dẫn đến hành vi mạnh mẽ hơn. Ý định mua hàng phản ánh dự đoán hoặc kế hoạch hành vi trong tương lai hoặc khả năng về niềm tin và sẽ chuyển thành hành vi mua hàng.
Mặc dù Mittal và Kamakura (2001) lập luận rằng, ý định mua hàng không thể dự đoán chính xác, tuy nhiên theo Conner và Armitage (1998) ý định đại diện động cơ của một người phải nỗ lực để thực hiện hành vi. Vì vậy khái niệm Quyết định sử dụng được hiểu như là quyết định mua trong nghiên cứu này. Các lý thuyết liên quan 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model-TAM) Mô hình TAM (Technology Acceptance Model) là một trong những mô hình được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu.
Được kiểm chứng và phổ biến rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu khác, mô hình này tập trung chủ yếu vào hai yếu tố quan trọng sau: cảm nhận về tính hữu dụng (Perceived Usefulness-PU) và cảm nhận dễ sử dụng (Perceived Ease of Use- PEU). Nhận thức dễ sử dụng là mức độ mà người dùng tin vào việc hệ thống được sử dụng không cần nhiều công sức (về mặt thể lực, kỳ vọng về kinh nghiệm bản thân và tinh thần có thể sử dụng hệ thống dễ dàng), bao gồm: các chương trình huấn luyện cách sử dụng máy tính, thiết kế giao diện của máy tính, phần mềm cài đặt trên máy tính, ngôn ngữ thể hiện. Hữu dụng Các biến Thái độ Dự định Hành động môi trường Nhận thức dễ sử dụng Hình 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 10 2.
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior- TPB) Lý thuyết Hành vi Kế hoạch của Ajzen (1985) đã trở thành một trong những mô hình được trích dẫn nhiều nhất và rõ ràng là mô hình có ảnh hưởng và ứng dụng nhất trong việc dự đoán hành động hành vi con người suốt ba thập kỷ qua. Sự linh hoạt của nó được thể hiện thông qua việc thực hiện tìm kiếm sử dụng cụm từ "Lý thuyết Hành vi Kế hoạch" trên Google Scholar. Từ sự trích dẫn ban đầu chỉ có 22 vào năm 1985, sự tăng trưởng về sự trích dẫn của Lý thuyết Hành vi Kế hoạch đã tăng mạnh lên tới tổng cộng 50000/60000 vào năm 2020: "Lý thuyết Hành vi Kế hoạch, về nguyên tắc, có thể mở cửa cho việc bao gồm các dự đoán viên bổ sung nếu có thể chứng minh rằng chúng bắt được một tỷ lệ đáng kể của phương sai trong ý định hoặc hành vi sau khi các biến hiện tại của lý thuyết đã được xem xét" (Ajzen, 1991, tr. Thái độ Chuẩn chủ quan Xu hướng hành vi Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.
Thuyết hành vi có kế hoạch Nguồn: Ajzen (1991) 2. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Fishbein (1967) giới thiệu Lý thuyết Hành động hợp lý, giúp vạch ra con đường để hiểu sự phát triển của Lý thuyết Hành động Kế hoạch. Lý thuyết khẳng định rằng cá nhân thường xem xét hậu quả của hành vi trước khi hành động - vì vậy có tên là 11 Lý thuyết Hành động hợp lý.