phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Chƣơng 4: Thảo luận kết quả và hàm ý quản trị. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về Du lịch Khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
Ngành du lịch đƣợc xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng của nhân dân và khách du lịch góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng vô cùng lớn về du lịch. Thiên nhiên ƣu ái ban tặng cho dải đất hình chữ S rất nhiều kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ, đƣờng bờ biển dài hơn 3000km, hơn 125 bãi biển, nhiều cảnh quan và di tích lịch sử đƣợc xếp hạng di sản quốc gia, di sản thế giới. Vì lẽ đó, du lịch hiện đang là ngành “công nghiệp không khói” đƣợc ƣu tiên phát triển.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đi du lịch, nghỉ ngơi hay đi khám phá những vùng đất mới ngày càng nhiều, sức cạnh tranh giữa cách địa điểm du lịch và các đon vị kinh doanh du lịch cũng vì thế mà ngày càng tăng. Hiểu đƣợc bản chất cũng nhƣ thế mạnh tại địa phƣơng mình chính là yếu tố cốt lõi giúp các nhà quản lý và các nhà kinh doanh hoạch định tối ƣu nhất phƣơng án thúc đẩy doanh thu từ du lịch ở mỗi điểm đến. Vai trò của ngành du lịch Du lịch đƣợc coi nhƣ là một sở thích mà bất kỳ ai đều có, chúng đƣợc coi nhƣ là hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Ngày nay du lịch đƣợc coi nhƣ là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá, xã hội và là một trong những ngành kinh tế quan trọng của rất nhiều đất nƣớc.
Vai trò của du lịch trong nền kinh tế Tại Việt Nam du lịch đƣợc đánh giá là một trong 3 ngành kinh tế mũi nhọn đƣợc nhà nƣớc chú trọng đầu tƣ cơ sở hạ tầng, không ngừng phát triển và đóng góp rất lớn và nền kinh tế đất nƣớc. Du lịch phát triển hỗ trợ các ngành giao thông vật tại, bƣu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ ăn uống và nghỉ ngơi. Ngoài ra ngành du lịch phát triển mang lại thị trƣờng tiêu thụ văn hóa rộng lớn, thúc đẩy tăng trƣởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển của xã hội 9 Ngành du lịch giúp tạo cơ hội việc làm lớn cho lao động, đặc biệt là lao động nữ.
Ở các vùng cao, ngành du lịch tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời dân nông thôn, tạo ra những chuyển biến tích cực xã hội, nâng cao mức sống. Góp phần làm giảm quá trình đô thị hoá, cân bằng lại sự phân bố dân cƣ, cơ sở hạ tầng từ đô thị về nông thôn, nhờ đó làm giảm gánh nặng những tiêu cực do đô thị hoá gây ra. Đồng thời du dịch là cách thức quảng bá văn hoá, phong tục tập quán hiệu quả của con ngƣời Việt Nam cho bạn bè quốc tế mang đến nhiều cơ hội cho các hình thức giao dịch khác [33]. Khách du lịch 1.
Khái niệm khách du lịch Có rất nhiều quan điểm về khách du lịch đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử Thế kỷ XVIII – tại Pháp: Khách du lịch là ngƣời thực hiện một cuộc hành trình lớn “faire le grand tour”. Đầu thế kỷ XX – Iozef Stander: Khách du lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích ngoài nơi cƣ trú thƣởng xuyên để thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế. Hoặc một số khái niệm của các tổ chức du lịch nhƣ Liên hiệp các quốc gia League of Nations cho rằng: “Khách du lịch là những ngƣời thực hiện chuyến đi vì mục đích giải trí – gia đình – sức khỏe; những ngƣời thực hiện chuyến đi để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công vụ; những ngƣời thực hiện chuyến đi vì mục đích kinh doanh, hợp tác làm ăn; những ngƣời trên những chuyến hành trình du ngoạn trên biển cập bến dù là dừng chân dƣới 24h”. Cũng theo định nghĩa này, những ngƣời không đƣợc coi là khách du lịch là: những ngƣời lao động, kinh doanh, có hoặc không có hợp đồng lao động; những ngƣời đến với mục đích định cƣ; sinh viên và những ngƣời đến để học tập; những ngƣời ở biên giới sang làm việc; những ngƣời đi qua một nƣớc mà không dừng lại dù hành trình đi qua nƣớc đó có thể kéo dài hơn 24h”.
Qua thời gian, khái niệm khách du lịch dần đƣợc hoàn thiện về nội hàm. Ngày nay, khách du lịch đƣợc định nghĩa là những ngƣời đi ra khỏi môi trƣờng sống thƣờng xuyên của mình để đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục với mục đích chính của chuyến đi là thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống ở. Theo đó, khách du lịch bao gồm: khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nƣớc ngoài. Cụ thể, các loại khách du lịch này đƣợc định nghĩa nhƣ sau: 10 - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.
- Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào Việt Nam du lịch. - Khách du lịch ra nƣớc ngoài là công dân Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam đi du lịch nƣớc ngoài. Trong phạm vi của nghiên cứu này, chúng ta sẽ tìm hiểu về đối tƣợng khách du lịch nội địa. Đặc điểm tâm lý của khách du lịch nội địa Đặc điểm tâm lý khách du lịch nội địa Việt Nam thƣờng thích du lịch cùng gia đình nhất là bạn đời hay cha mẹ và bè bạn.
Ngƣời Việt hầu nhƣ không thích đi du lịch 1 mình mà luôn phải có hội nhóm. Ngoài những điểm chung đã nêu trên, ngƣời Việt ở mỗi vùng miền lại có những đặc trƣng riêng sẽ đƣợc phân tích dƣới đây. Tâm lý khách du lịch miền Bắc thƣờng đi du lịch chủ yếu vào các dịp hè và các dịp lễ đặc biệt. Hơn 50% ngƣời ở Hà Nội đều cho rằng họ sẽ đi du lịch vào các dịp lễ lớn và những ngày nghỉ dài (nhƣ 30/4, 1/5 và 2/9).
Ngƣời miền Bắc thƣờng dùng những chuyến du lịch để gắn kết tình cảm, vì vậy có tới 60% những chuyến du lịch thƣờng đƣợc sắp xếp để đi cùng với ngƣời thân trong gia đình; 30% đi cùng bạn bè. Ngƣời miền Bắc có thiên hƣớng đi với gia đình nhiều hơn ngƣời các miền khác. Ngƣời miền Bắc vẫn thƣờng có thói quen tự tổ chức tour riêng khi họ đi du lịch hơn là phải thông qua công ty du lịch, 60% thích chọn loại hình du lịch du lịch nghỉ dƣỡng thay vì tham quan. Ngƣời Bắc thƣờng ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thƣờng hay suy nghĩ sâu xa.
Nhiều khi gặp vấn đề không hài lòng, họ thƣờng không nói thẳng mà thể hiện qua thái độ. Đặc điểm tâm lý khách du lịch miền Trung Tâm lý khách du lịch miền Trung thƣờng đi du lịch chủ yếu vào các dịp hè và các dịp lễ đặc biệt, những kỳ nghỉ dài trong năm (nhƣ 30/4, 1/5 và 2/9). Tuy nhiên, ngƣời miền Trung ít khi đi với ngƣời thân hơn so với ngƣời miền Bắc. Ngƣời miền Trung vốn giỏi tính toán, xoay xở trong cuộc sống nên không đi du lịch nhiều.
Vì thế, mỗi chuyến đi, mỗi dịch vụ họ sử dụng đều đƣợc lựa chọn kỹ để thật có giá trị, ý nghĩa. 11 Du khách miền Trung đa phần có thói quen tự tổ chức tour riêng cho nhóm của mình thay vì mua tour có sẵn của công ty du lịch. Vì thế, họ cũng tự tìm hiểu và thực hiện dịch vụ đặt phòng khách sạn cho mình. Ngƣời miền Trung tính tình phóng khoáng, bộc trực, thẳng thẳng, nóng nảy, nhƣng rất mau nguội lạnh.
Khi họ không hài lòng về vấn đề gì thƣờng nói ngay và đôi khi nói những câu rất khó nghe, nhƣng lại dễ dàng bỏ qua và không nhắc tới nữa. Hiểu đƣợc điều này sẽ giúp quản lý và nhân viên khách sạn có cách ứng xử, giải quyết các tình huống một cách khéo léo để làm hài lòng khách lƣu trú ngƣời miền Trung. Tâm lý khách du lịch miền Nam có ƣu điểm là mạnh bạo, năng động, cởi mở… phù hợp với đặc tính của vùng đất Nam Bộ – vùng đất mới hơn so với miền Bắc và miền Trung. Họ không mang nặng truyền thống ngàn đời, do đó từ cách ứng xử đến cách sinh hoạt, thói quen hàng ngày đều có sự thoải mái, dễ kết thân, dễ hòa nhập với cộng đồng mới lạ, không sĩ diện và không mấy xem trọng chuyện lễ nghi, tiểu tiết cầu kì.
Ngƣời miền Nam thƣờng khá dễ tính, dễ thông cảm cho các sai lầm của phía khách sạn. Đồ nội thất, vật dụng dù chƣa đƣợc nhƣ ý song họ cũng có thể bỏ qua. Cùng do tính cách thoải mái, năng động, ƣa cái mới mà rất nhiều khách du lịch miền Nam thích có chuyến du lịch tự tổ chức, đặc biệt khi đi du lịch với bạn bè (92%). Nhóm đối tƣợng này cũng biết nhiều đến những dịch vụ hiện đại trong mảng khách sạn nhƣ đặt phòng khách sạn trực tuyến (có 33% số ngƣời đƣợc hỏi đã từng đặt phòng khách sạn qua kênh này).
Trong số các yếu tố đƣợc đề cập đến, thì giá vẫn là yếu tố quan trọng nhất khi khách hàng lựa chọn dịch vụ và khách sạn. Các yếu tố khác lần lƣợt ngƣời miền Nam chọn lựa là: địa điểm, lời khuyên từ ngƣời quen, và cuối cùng là thông tin trên Internet [34]. Điểm đến du lịch 1.