Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trang 5 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả sản xuất 2.1 Khái niệm hiệu quả, vận hành sản xuất Cụm từ “hiệu quả” luôn được nhắc đến trong đời sống xã hội. Đặc biệt, trong công việc hoặc các mục tiêu đề xuất cần đạt được thì hiệu quả là thước đo hữu dụng giúp phản ánh hoạt động của người thực hiện. Nếu hoạt động mang tính hiệu quả cao thì đồng nghĩa mục tiêu đang hướng đến đã dần hoàn thiện và đáp ứng kỳ vọng của cá nhân. Theo Forsund và Hjalmarsson (1974) khái niệm hiệu quả hiểu theo nghĩa rộng được sử dụng để mô tả việc tận dụng các nguồn lực, tức là hiệu quả là một tuyên bố về hiệu suất của các quá trình chuyển đổi một tập hợp đầu vào thành một tập hợp đầu ra.
Hiệu quả được xem là kết quả hoạt động của một đơn vị kinh tế phải được so sánh với một tiêu chuẩn. Việc thiết lập một tiêu chuẩn bao gồm những đánh giá có giá trị về mục tiêu từ các hoạt động kinh tế. Mục đích ở đây là để đo lường kết quả hoạt động của các công ty trong một ngành và từ đó đưa ra một bức tranh về cấu trúc của ngành. Hellriegel và Slocum (1999) định nghĩa hiệu quả là kết quả của những nỗ lực của mọi người trong tổ chức ở các cấp độ khác nhau.
Những nỗ lực này dẫn đến việc đạt được mục tiêu và cải thiện hiệu quả hoạt động của tổ chức (Armstrong & Baron, 1998). Hiệu quả của tổ chức hoàn toàn dựa trên hiệu suất của nhân viên, tức là hiệu suất của nhân viên tốt hơn thì hiệu suất của tổ chức cao hơn và ngược lại. Một mối tương quan mạnh mẽ được báo cáo giữa hiệu suất của nhân viên và hiệu suất của tổ chức (Collis & Montgomery, 1995; Mwita, 2000; Abbas & Yaqoob, 2009). Armstrong và Baron (1998) cũng báo cáo mối tương quan tích cực mạnh mẽ giữa hiệu suất của nhân viên với năng suất và tăng trưởng của tổ chức.
Hiệu quả được coi là việc thực hiện công việc cũng như kết quả đạt được (Otley, 1999). Hiệu quả là một cấu trúc đa chiều, việc đo lường nó khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố tạo nên nó (Fitzgerald và Moon, 1996). Mặt khác, một số giả thuyết cho rằng hiệu quả nên được định nghĩa là kết quả của công việc vì chúng cung cấp mối liên kết mạnh mẽ nhất với các mục tiêu chiến lược của tổ chức, sự hài lòng của khách hàng và đóng góp kinh tế (Rogers, 1994). Điều quan trọng là phải xác định liệu mục tiêu đo lường có phải là để đánh giá kết quả thực hiện hoặc hành vi hay Trang 6 không.
Do đó, tổ chức nên phân biệt giữa kết quả (kết quả/đầu ra), hành vi (quá trình) và các thiết bị đo lường hiệu suất thích hợp.2 Khái niệm hiệu quả sản xuất Ở một bài nghiên cứu khác, Lohman và cộng sự (2004) đã nêu khi đề cập đến khái niệm hiệu quả sản xuất phải xét đến 3 khía cạnh khác nhau về nguồn lực, đầu ra và tính linh hoạt. Căn cứ vào ba yếu tố trên, để phát huy được tính hiệu quả cần kiểm soát các hoạt động về chi phí nhằm đảm bảo “nguồn lực”. Bên cạnh đó, muốn đảm bảo được hiệu quả sản xuất “đầu ra” cần phải đáp ứng đủ các tiêu chí yêu cầu về chất lượng, thời gian và tài chính. Các biện pháp hiệu quả ở cấp độ này cho thấy tiềm năng gia tăng sản xuất của ngành phát triển được bằng cách sử dụng nguồn lực ở các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ hiện đại có “tinh linh hoạt” ở mức tốt nhất.
Hiệu quả sản xuất là một khái niệm được định nghĩa dựa trên nhiều quan điểm khác nhau dưới nhiều góc độ của mỗi cá nhân. Để dẫn chứng điều này C. Sickles tác giả của cuốn sách “Measurement of Productivity and Efficiency” có đề cập: “Nhiệm vụ đặt ra nền tảng lý thuyết để phân tích hiệu quả sản xuất của một doanh nghiệp khá thách thức. Để duy trì tính thống nhất cho lý thuyết, ông nói bất kỳ quy trình sản xuất nào cũng có thể được coi là một quy trình.
Ứng với mỗi quy trình đó luôn có sự biến đổi từ khâu đầu vào cho đến đầu ra”. Trong một nghiên cứu lâu đời của Farrell, M. (1957): “Khi nói về hiệu quả sản xuất của một doanh nghiệp, tác giả nói đến sự thành công của doanh nghiệp đó trong việc tạo ra chất lượng đầu ra lớn nhất có thể từ một tập hợp đầu vào nhất định. Với điều kiện là tất cả chỉ số đầu vào và đầu ra đều phải được đo lường chính xác thì cách sử dụng cho lý thuyết này có thể sử dụng rộng rãi.” Hiệu quả trong hoạt động vận hành sản xuất hiện hữu ở nhiều khía cạnh.
Trong đó, một mô hình sản xuất vận hành hiệu quả còn được đánh giá dựa trên tỷ lệ đo lường giữa sản phẩm đáp ứng được tiêu chí khách hàng (sản phẩm đạt chất lượng), sản phẩm không đáp ứng đủ mặt chất lượng theo Anderson và Sullivan (1993). Hiệu quả thời gian đáp ứng sản phẩm cho khách hàng là doanh nghiệp luôn đảm bảo giao hàng nhanh chóng và tin cậy (Ward và cộng sự, 1996). Hiệu quả của sự linh hoạt trong sản xuất là khả năng điều chỉnh sản lượng sản xuất và chuyển đổi sản phẩm nhanh (Olhager, 1993; Hutchison và cộng sự, 2007). Nếu đặt dưới góc nhìn kinh tế, hiệu quả vận hành sản xuất sẽ đem lại hiệu quả chi phí là yếu tố quan trọng nhất trong việc đo lường hiệu quả sản xuất (Slack và cộng Trang 7 sự, 2002), vì khi doanh nghiệp giữ được chi phí thấp sẽ góp phần giảm giá thành và tăng lợi nhuận (Slack và cộng sự, 2002).
Còn theo Coelli (2005), doanh nghiệp đạt được hiệu quả khi sản xuất được sản lượng tối đa với một lượng đầu vào cho trước, hoặc sản xuất một sản lượng cố định với lượng đầu vào tối thiểu. Nhưng đối với quan điểm của Hallgren (2007), ông có nhận định bao quát hơn: “Rất khó để đánh giá một cách công bằng hiệu quả sản xuất. Thông thường, các thước đo hiệu quả ở cấp độ nhà máy còn chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố nằm ngoài phạm vi hoạt động sản xuất chẳng hạn như một số thước đo về tài chính như ROI, lợi nhuận…”. Tuy nhiên, điều quan trọng cần thừa nhận dù là ở mọi khía cạnh nào đều có mức độ quan trọng riêng ứng với mỗi hoạt động để mang lại hiệu quả.
Nhưng dưới quan điểm của tác giả, ông nhận định khía cạnh quan trọng nhất là vấn đề định vị cạnh tranh. Để có được vị thế cạnh tranh cao trong lĩnh vực sản xuất, Hallgren (2007) đã chỉ ra rằng, hiệu quả vận hành sản xuất bao gồm độ hiệu quả trong việc đáp ứng chất lượng của sản phẩm, hiệu quả kể cả thời gian đáp ứng sản phẩm, tính linh hoạt trong quá trình sản xuất, và hơn cả là tối thiểu về mặt chi phí. Ngoài ra, Theo Cao Minh Nghĩa (2007) tác giả đặt yếu tố hiệu quả dưới góc nhìn quản lý: “Hiệu quả sản xuất - kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, vốn, đất đai…) nhằm đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét rằng mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào.2 Một số nghiên cứu về hiệu quả vận hành sản xuất Một số nghiên cứu quốc tế Từ trước đến nay, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về các hoạt động mang lại hiệu quả hoạt động vận hành sản xuất.
Tính hiệu quả trong sản xuất được đặt ra dưới một góc nhìn đa chiều như hiệu quả về năng suất sản xuất, hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, hiệu quả trong việc đảm bảo thời gian giao hàng cho khách hàng và hiệu quả trong việc sử dụng tối ưu nguồn lực trong tổ chức… Do đó, tương ứng với mỗi nghiên cứu các tác giả đã đưa ra các nhận định theo nhiều khía cạnh khác nhau. Theo Jain và cộng sự (2014) đã nêu, hiệu quả vận hành sản xuất được tổng hợp trên bốn chỉ số đo lường chính: chi phí, tối ưu nguồn lực, độ tin cậy và chất lượng. Trong đó Jain và cộng sự đã giải thích rằng: “Chi phí chính là thước đo mang Trang 8 tính kinh tế cho độ hoạt động vận hành sản xuất của doanh nghiệp. Độ tin cậy đề cập đến xác suất mà một sản phẩm sẽ thể hiện công dụng của nó mà không gây ra lỗi trong một khoảng thời gian đã được công bố với những điều kiện cụ thể.
Tận dụng tối ưu nguồn lực sản xuất là hoạt động sử dụng tối đa công suất máy móc thiết bị nhằm đạt được mức sản lượng tối đa trong một khoảng thời gian tối thiểu. Chất lượng là sự đáp ứng đầy đủ với các yêu cầu, kỳ vọng của khách hàng.” Nghiên cứu này được xây dựng trên bối cảnh của hệ thống sản xuất có thể cấu hình lại (RMS) được coi là hệ thống sản xuất có khả năng cung cấp tính hiệu quả cho hoạt động vận hành sản xuất với nhu cầu không thể đoán trước, yêu cầu về sự đa dạng của sản phẩm, sự phát triển nhanh chóng về công nghệ sản phẩm và quy trình đã buộc các hệ thống sản xuất phải thích ứng với các yêu cầu thay đổi một cách hiệu quả. Bài viết này tập trung vào các thước đo hiệu quả và cách tìm ra cấu hình tốt nhất cho hệ thống sản xuất có thể cấu hình lại. Theo bài nghiên cứu “An overview of frequently used performance measures”, Tangen (2003) đã đề cập “Thước đo hiệu quả được xem là quá trình định lượng các hoạt động tạo ra giá trị cho hoạt động vận hành sản xuất”.
Với báo cáo của đề tài trên, tác giả cũng đã nhắc đến có năm loại mục tiêu doanh nghiệp cần đạt đến nếu muốn vận hành sản xuất hiệu quả: Mục tiêu về chi phí, tính linh hoạt, tốc độ, độ tin cậy và chất lượng. Khi đọc qua năm yếu tố này, ta có thể nhận thấy nét tương đồng với quan điểm của Jain và cộng sự (2014).