Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu, trình bày cụ thể về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi của đề tài và bố cục trình bày nội dung báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, trình bày về các khái niệm, cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu liên quan đến mô hình nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết của mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày quy trình thực hiện, phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trình bày thống kê mô tả của mẫu thu thập được và các kết quả phân tích định lượng trong việc kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra.
Chương 5: Thảo luận kết quả và kiến nghị, trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị và những mặt còn hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 15 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHÊN CỨU Chương 2 sẽ đề cập đến cơ sở khoa học, giải thích một số khái niệm cơ bản và trình bày kết quả một số nghiên cứu trước đây, để đưa ra mô hình đề xuất cho nghiên cứu này.1 CÁC KHÁI NIỆM Tri thức (Knowledge) Theo K.Wiig (1994), tri thức bao gồm các chân lý và niềm tin, các quan điểm và khái niệm, các đánh giá và mong đợi, các phương pháp và bí quyết.Beckman (1999) cho rằng tri thức được rút ra từ thông tin và dữ liệu để hỗ trợ tích cực cho việc nâng cao hiệu suất làm việc, cách giải quyết vấn đề, ra quyết định, học tập và giảng dạy. Davenport & Prusak (1998) định nghĩa tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới.
Nonaka & Takeuchi (1995) khái niệm “tri thức là quá trình năng động của con người trong việc minh chứng các niềm tin cá nhân với những “sự thật”. Theo Polanyi (1966) phân loại tri thức thành tri thức hiện hữu và tri thức ẩn. Tri thức hiện hữu là những tri thức đã được mã hóa thành văn bản, tài liệu bản giấy hoặc tài liệu dạng số hóa. Tri thức ẩn là những tri thức tồn tại trong bộ não của con người và thường khó chuyển sang các dạng văn bản, loại tri thức này chỉ có thể chia sẻ hay chuyển giao thông qua việc quan sát hay học hỏi trong quá trình tương tác (Bartol & Srivastava, 2002).
Chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing) Chia sẻ tri thức được định nghĩa là sự chia sẻ với người khác những kiến thức, ý tưởng liên quan đến nhiệm vụ đang thực hiện (Gupta, 2008), hay sự trao đổi kinh nghiệm, suy nghĩ, hiểu biết về vấn đề nào đó với người khác (Kim & King, 2004). Chia sẻ tri thức bao gồm cả việc trao đổi tri thức hiện và tri thức ẩn ở các mức độ cá nhân, nhóm và tổ chức (Small & Sage, 2005). Điều này đòi hỏi phải có sự hợp tác, tự nguyện chia sẻ tri thức giữa các cá nhân, các nhóm trong tổ chức vì một lợi ích chung (Al-Alawi et al. 16 Đặc điểm tính cách (Personality traits) Theo Bradberry (2007) thì tính cách là sự khác biệt tâm lý giữa các cá nhân, làm cá nhân đó trở thành một cá thể duy nhất với những đặc trưng tâm lý riêng biệt.
Tính cách cá nhân bao gồm một chuỗi những cảm xúc, suy nghĩ, và hành vi của một cá nhân (Carpenter et al. Kể từ những năm đầu thập niên 90, trải qua nhiều cuộc nghiên cứu về tính cách cá nhân đã chứng minh rằng năm đặc điểm cá tính là đủ để mô tả toàn bộ tính cách cá nhân. Trong đó, mô hình năm nhân tố (The Big Five Model) đã nổi lên và được mở rộng sử dụng để mô tả khía cạnh nổi bật về tính cách cá nhân (Digman, 1990; Goldberg, 1993; Judge et al.1 Các nghiên cứu về tính cách cá nhân Tác giả Các yếu tố tính cách cá nhân Norman’s (1963) Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm xúc, Văn hóa Botwin & Buss (1989) Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm xúc, Văn hóa Goldberg (1992) Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm xúc, Am hiểu Costa & McRae (1992) Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm xúc, Sẵn sàng trải nghiệm Paunonen et al. Tính Hướng ngoại (Extraversion): 17 Hướng ngoại là trạng thái quan tâm đến và có được sự hài lòng từ những gì bên ngoài (Murray & Michael, 1991).
Theo Ehchart et al. (2006), tính hướng ngoại bao gồm tính thích giao lưu, thiên hướng về xã hội, tập thể cũng như nó sẽ ảnh hưởng tích cực tới cá nhân trong việc ra quyết định. Còn John, Slocum & Don (2009) cho rằng tính hướng ngoại là mức độ mà một người tìm kiếm sự kết bạn với những người khác. Những người hướng ngoại thích được ở cùng những người khác.
Họ tràn đầy năng lượng và thường trải qua những cảm xúc tích cực. Những người hướng ngoại thường cảm thấy thoải mái khi giao tiếp với người khác, mạnh dạn phát biểu những ý kiến của mình, quyết đoán. Ngược lại, những người có tính cách khó gần, ít giao lưu, có khuynh hướng trầm lặng và thận trọng …thường được xem là những người sống nội tâm. Tính Ổn định cảm xúc (Emotional Stability): Tính ổn định cảm xúc liên quan đến số lượng và cường độ của kích thích cần thiết để khơi gợi những cảm xúc tích cực trong một người (Murray & Michael, 1991).
Còn theo John, Slocum & Don (2009) thì ổn định cảm xúc là mức độ mà ở đó một người vẫn bình tĩnh, không lo âu và thoải mái trước những cảm xúc tiêu cực dai dẳng. Người có sự ổn định về cảm xúc thì có sự thoải mái, điềm đạm, chậm thể hiện sự tức giận, quản lý khủng hoảng tốt, mau hồi phục về thể chất, tinh thần và không lo âu trong các mối quan hệ của họ với những người khác. Những người có sự ổn định về cảm xúc kém thì dễ bị kích động, hay lo âu trong các mối quan hệ với người khác, phản ứng lại và khó tránh khỏi sự thay đổi tâm tính đột ngột. Tính Tận tâm (Conscientiousness): Tính tận tâm đề cập đến mức độ mà một người thể hiện ra bên ngoài, liên quan đến tính tự kỷ luật, hành động có trách nhiệm, kiên trì và cẩn thận (John, Slocum & Don, 2009; Murray & Michael, 1991).
Những người tận tâm thường tập trung vào số ít mục tiêu then chốt, thể hiện tính ngăn nắp, đáng tin cậy, cẩn thận, chu đáo, có trách nhiệm và tự kỷ luật bởi vì họ thường tập trung vào một vài thứ để thực hiện một cách tốt nhất. Những người không tận tâm có khuynh hướng tập trung vào dãy rộng hơn của các mục tiêu và kết quả, họ có khuynh hướng không bao quát được vấn đề, tính chủ động kém và ít chu đáo hơn. 18 Tính Hòa đồng (Agreeableness): Theo John, Slocum & Don (2009), tính hòa đồng là khả năng của một người hòa mình vào đám đông với những người khác. Những người có tính cách hòa đồng thường chu đáo, thân thiện hay giúp đỡ, sẵn sàng chia sẽ những sự quan tâm của họ, có cách nhìn lạc quan.
Những người có biểu hiện tính hòa đồng thấp thường được mô tả dễ mất bình tĩnh, không hợp tác và cáu kỉnh. Họ thường không quan tâm đến mặt tốt đẹp của những người khác và hầu như không mở rộng tấm lòng với người khác. Tính Cởi mở (Openness): Theo Judge et al. (2002), tính cởi mở được đặc trưng bởi sự thông minh, sáng tạo, giá trị văn hóa, sự tò mò, khả năng nhận thức, và sáng suốt.
Còn theo Digman (1990), tính cởi mở là một sự đánh giá chung về nghệ thuật, tình cảm, phiêu lưu, trí tưởng tượng và nhiều kinh nghiệm khác. Những cá nhân có tính cởi mở cao thường có trí tưởng tượng phong phú, thích khám phá, tìm hiểu các nền văn hóa, và phóng khoáng. Nó cũng phản ánh nhu cầu đa dạng khác, sự nhạy cảm, thẩm mỹ và các giá trị độc đáo (Murray & Michael, 1991) Niềm tin (Trust) Niềm tin là sự tin tưởng vào một cá nhân khác nổ lực thực hiện cam kết, trung thực và không tìm cách lợi dụng cơ hội không công bằng (Dirks & Ferrin, 2001). Theo Bartol & Srivastava (2002), niềm tin đóng vai trò quan trọng trong những mối quan hệ xã hội, hơn là trong các giao dịch kinh tế.
Niềm tin là sự kỳ vọng tích cực về tính chính trực, khả năng, sự trung thực và thiện chí của một người đối với năng lực của những đồng nghiệp khác trong tổ chức. Phần thưởng (Instrincsic Rewards) Phần thưởng có thể có hai hình thức là phần thưởng tinh thần (instrinsic rewards) và phần thưởng hiện vật (extrinsic rewards). Phần thưởng hiện vật có thể là tiền hoặc các giải thưởng phi tiền tệ; đây là yếu tố tác động làm tăng sự chia sẻ tri thức giữa nhân viên với nhau (Wei et al. Phần thưởng tinh thần thường là kiến thức, hay sự khen ngợi, ghi nhận, cộng nhận từ người khác.
Nó tạo nên cảm giác như một người đã hoàn thành trách nhiệm và tự thỏa mãn bản thân (Osterloh 19 & Frey, 2000). Phần thưởng trong môi trường doanh nghiệp thường là sự thăng tiến, khoản tiền thưởng hay tăng lương đã được minh chứng là có tác động tích cực đến tần suất chia sẻ tri thức (Kankanhalli e al. Công nghệ thông tin (Technology Support) Hệ thống công nghệ thông tin thường được sử dụng để quản lý con người, thông tin và quá trình nhằm hỗ trợ cho giải quyết các vấn đề, các công việc hàng ngày hay hỗ trợ cho việc ra quyết định (Whitten et al. Công nghệ thông tin ngày nay cho phép người dùng tìm kiếm, truy cập và truy xuất thông tin nhanh hơn, hỗ trợ truyền thông và hợp tác giữa các cá nhân dễ dàng hơn.
Việc sử dụng công nghệ thông tin cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các mạng xã hội vượt qua ranh giới địa lý, duy trì các mối quan hệ, hợp tác lâu dài, từ đó, hỗ trợ chia sẻ tri thức dễ dàng và hiệu quả hơn (Riege, 2005).2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Phần tiếp theo sẽ trình bày những nghiên cứu về việc chia sẽ tri thức trong môi trường đại học đã được thực hiện. Từ các nghiên cứu này tác giả sẽ rút ra kinh nghiệm và đề xuất một mô hình hợp lý hơn về vấn đề này trong luận văn.