Luận án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong các trường đại học công lập khu vực hà nội 11 206

Chuyên khảo phân tích Luận án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong các trường, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Quản trị tri thức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

196
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIA SẺ TRI THỨC

1.1. Tri thức, quản trị tri thức và chia sẻ tri thức

1.1.1. Tri thức

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chia sẻ tri thức trở thành yếu tố sống còn cho sự phát triển của các tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Tri thức không chỉ là tài sản vô hình mà còn là nguồn lực quan trọng giúp các tổ chức nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo Wright và cộng sự (1994), nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng và tri thức của nhân viên có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh. Việc quản lý tri thức hiệu quả sẽ giúp tổ chức tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm chi phí và cải thiện dịch vụ khách hàng. Tuy nhiên, nhiều tổ chức vẫn gặp khó khăn trong việc khai thác tri thức. Nghiên cứu của Davenport và Prusak (1998) chỉ ra rằng chia sẻ tri thức là cốt lõi của quản trị tri thức, giúp chuyển giao tri thức từ cá nhân sang tổ chức. Điều này đặc biệt quan trọng trong các trường đại học, nơi mà giảng viên đại học cần chia sẻ tri thức để nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên đại học trong các trường công lập tại Hà Nội. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các nhân tố thuộc về tổ chức như văn hóa tổ chức, khen thưởng, và sự ủng hộ của lãnh đạo, cũng như các công cụ công nghệ thông tin. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những chính sách hữu ích cho các nhà quản lý nhằm tăng cường hoạt động chia sẻ tri thức. Việc hiểu rõ các nhân tố này sẽ giúp các trường đại học phát triển bền vững và nâng cao vị thế trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

III. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào chia sẻ tri thức giữa các giảng viên đại học trong các trường công lập tại Hà Nội. Các nhân tố được xem xét bao gồm công nghệ thông tin, sự ủng hộ của lãnh đạo, và văn hóa tổ chức. Đối tượng nghiên cứu là các giảng viên đang giảng dạy tại 13 trường đại học công lập. Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp định lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến hai quá trình trung tâm của chia sẻ tri thức: quá trình truyền đạt và thu nhận tri thức. Thời gian nghiên cứu sẽ tập trung vào giai đoạn từ 2014 đến 2019.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp để xây dựng khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Phương pháp định lượng sẽ được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu thông qua phần mềm SPSS và AMOS. Việc này sẽ giúp xác định rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên đại học. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin quý giá cho các nhà quản lý trong việc thúc đẩy hoạt động chia sẻ tri thức trong các trường đại học.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIA SẺ TRI THỨC 1. Tri thức, quản trị tri thức và chia sẻ tri thức 1. Tri thức a) Khái niệm tri thức Nghiên cứu của Grant (1996) chỉ ra rằng tri thức là một trong những yếu tố làm nên thành công của tổ chức và quản trị tri thức trở thành một chiến lược cạnh tranh hiệu quả và quan trọng nhất. Còn theo Stiglitz (từng là nhà kinh tế đứng đầu của World Bank) tri thức đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội.

Khả năng sử dụng tri thức của một tổ chức có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào con người của tổ chức đó (Ipe, 2003). Do đó, tri thức của các cá nhân được coi là một tài sản cần được quản lý hiệu quả để đạt được kết quả hoạt động tốt hơn (Bartol và Srivastava, 2002) và cuối cùng là đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững (Cabrera, 2005; Nonaka và Takeuchi, 1995). Tuy nhiên, rất nhiều tổ chức vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tri thức để phát triển tổ chức. Câu hỏi về bản chất của tri thức là một thách thức lớn đối với các nhà khoa học.

Mặc dù các nhà triết gia đã thảo luận vấn đề này trong nhiều năm, nhưng đến nay việc tìm kiếm một định nghĩa chính thức vẫn còn đang tiếp tục. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau thì tri thức được định nghĩa một cách khác nhau. Ví dụ, Nonaka và Takeuchi (1995) định nghĩa rằng “tri thức là một quá trình năng động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân đối với sự thật”. Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành một cấu trúc thứ bậc của việc tạo ra tri thức.

Tri thức là một tập hợp các mô hình kết nối có cấu trúc (Meyer và Sugiyama, 2007). Davenport và Prusak (1998) định nghĩa tri thức là một cách tiếp cận hoàn chỉnh tạo ra các thông lệ và thông tin mới. Tri thức có thể được xem như một trạng thái, đối tượng, quá trình, điều kiện hoặc khả năng (Alavi và Leidner, 2001). Tri thức cũng được định nghĩa là (i) sự kiện, thông tin và kỹ năng được mua lại bởi một người thông qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, sự hiểu biết lý thuyết hoặc thực hành một vấn đề, (ii) những gì được biết đến trong một lĩnh vực cụ thể hoặc toàn bộ; sự kiện và thông tin; hoặc (iii) nâng cao nhận thức hay hiểu biết đã đạt được bằng kinh nghiệm của một sự kiện hoặc tình huống (Tiwana, 2002).

Tri thức có thể được định nghĩa là “thông tin kết hợp với kinh nghiệm, bối cảnh, diễn giải và phản ánh” 8 (Mohanty, 2003). Drucker (1993) cho rằng tri thức được con người tạo ra và đối thủ cạnh tranh không thể hiểu cách thức một doanh nghiệp tạo ra tri thức nếu không hiểu vai trò và chức năng của yếu tố chủ quan con người trong quá trình đó. Ông từng nhận định rằng “Tài sản giá trị nhất của một công ty trong thế kỷ XX là hàng hóa và thiết bị, còn tài sản giá trị nhất của một công ty trong thế kỷ XXI sẽ là tri thức và năng suất lao động. Do đó, các công ty sẽ cạnh tranh với nhau trong một nền kinh tế tri thức”.

Khối tài sản tri thức mà Drucker nhắc đến chính là tài sản vô hình (Intangible Asset). Vì thế, để thành công, tổ chức cần phải quản trị dựa vào tri thức. Nhằm giúp các nhà quản lý hiểu cách thức phát triển vốn trí tuệ và chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp, các nhà khoa học của Nhật Bản (đứng đầu là Ikujiro Nonaka) đã đề xuất mô hình “Quản trị dựa vào tri thức” trong những năm 1990, hay còn gọi là mô hình “Quản trị dựa trên tri thức theo phong cách Hitotsubashi”. Do đó, để hiểu rõ bản chất quản trị dựa vào tri thức, cần tìm hiểu cả ở khía cạnh lý thuyết và thực tiễn tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Nhật Bản đã thành công.

Theo đó, Nonaka cho rằng “Tri thức được tạo ra trong vòng quay liên tục thông qua đối thoại và thực hành. Đối thoại cho phép mọi người hiểu rằng có những quan điểm khác với quan điểm của mình, giúp mọi người chấp nhận và tổng hợp những quan điểm đó, còn thực hành cho phép chia sẻ tri thức ẩn thông qua chia sẻ trải nghiệm hay diễn tả tri thức này bằng một hành động hoặc bối cảnh cụ thể. Để đảm bảo công ty sáng tạo tri thức thông qua tương tác đạt hiệu quả, người lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng. Họ có thể là người đưa ra tầm nhìn tri thức hoặc mục tiêu định hướng, phát triển và cổ vũ chia sẻ tri thức, khuyến khích tương tác thông qua đối thoại và thực hành, hay hỗ trợ, kết nối các Ba (bối cảnh), hay đưa ra các phần thưởng cho những tri thức mới hữu ích cho tổ chức”.

De Long và Fahey (2000) cho rằng tri thức như một sản phẩm phản ánh suy nghĩ và kinh nghiệm của con người. Alavi và Leidner (2001) đề cập đến tri thức như là dòng chảy của các kích thích mới bắt nguồn từ quá trình nhận thức của con người. Van der Spek và Spijkervet (1997) xem xét tri thức như là một tập hợp toàn bộ những hiểu biết, kinh nghiệm và thủ tục được coi là chính xác và đúng đắn và do đó định hướng các suy nghĩ, hành vi và sự giao tiếp của con người, đồng thời tri thức đó luôn có thể áp dụng trong nhiều tình huống và trong một thời gian tương đối dài. Davenport và Prusak (1998) cho rằng, thông tin được biến đổi thành tri thức của con người thông qua (a) cách so sánh thông tin giữa một tình huống với các tình huống khác đã biết, (b) các quyết định và hành động nào dẫn đến thông tin, (c) thông tin này liên 9 quan đến thông tin khác như thế nào và (d) những gì người khác nghĩ về thông tin này.

Định nghĩa dữ liệu, thông tin, tri thức và trí tuệ 1 Trí tuệ là tri thức được tích lũy, cho phép người đọc hiểu cách áp dụng các khái niệm vào các tình huống hoặc các vấn đề mới (Jessup và Valacich, 2003). Trí tuệ là mức độ trừu tượng cao nhất, với tầm nhìn rộng (Awad và Ghaziri, Trí tuệ 2004). Trí tuệ là khả năng phê bình hoặc thực tiễn trong bất kỳ tình huống nào. Nó dựa trên phán đoán đạo đức liên quan đến hệ thống tín ngưỡng của một cá nhân (Jashapara, 2005).

Tri thức là sự kết hợp của dữ liệu và thông tin, được bổ sung ý kiến, kỹ năng và kinh nghiệm tạo thành một tài sản có giá trị có thể dùng để hỗ trợ ra quyết định (Chaffey và Wood, 2005). Tri thức là dữ liệu hoặc thông tin được tổ chức và xử lý để truyền đạt sự Tri thức hiểu biết, kinh nghiệm, kiến thức tích lũy và chuyên môn nhằm giải quyết một vấn đề hiện tại (Turban và cộng sự, 2005). Tri thức dựa trên thông tin được trích ra từ dữ liệu. Tri thức là tài sản của những người sở hữu nó, thúc đẩy họ hành động theo cách cụ thể (Boddy và cộng sự, 2005).

Thông tin là dữ liệu làm tăng giá trị cho sự hiểu biết về một chủ đề (Chaffey và Wood, 2005). Thông tin là dữ liệu đã được định hình có ý nghĩa và hữu ích cho con người Thông tin (Laudon và Laudon, 2016). Thông tin là tập hợp các dữ liệu giúp đưa ra quyết định dễ dàng hơn (Awad và Ghaziri, 2004). Dữ liệu không có ý nghĩa và giá trị bởi nó không có bối cảnh và được diễn giải cụ thể (Jessup và Valacich, 2003; Bocij và cộng sự, 2003, Groff và Jones, 2003).

Dữ liệu là các sự kiện hoặc quan sát rời rạc, khách quan, chưa được tổ chức Dữ liệu và xử lý, và không truyền đạt ý nghĩa cụ thể nào (Awad và Ghaziri, 2004; Chaffey và Wood, 2005; Pearlson và Saunders, 2004; Bocij và cộng sự, 2003). Dữ liệu là các mô tả cơ bản và được ghi lại về sự vật, sự kiện, hoạt động và các giao dịch (Laudon và Laudon, 2016; Boddy và cộng sự, 2005). Nguồn: Rowley (2007) Từ những định nghĩa về tri thức, có thể thấy rằng dữ liệu và thông tin có liên quan đến tri thức nhưng không giống với tri thức. Beckman (1999) tóm tắt mối quan 11 hệ giữa dữ liệu, thông tin và tri thức như sau: “Dữ liệu = sự kiện, hình ảnh, hoặc âm thanh; Dữ liệu + diễn giải + ý nghĩa = thông tin = định dạng, lọc và tóm tắt dữ liệu; Thông tin + hành động + ứng dụng = tri thức = bản năng, ý tưởng, quy tắc và thủ tục hướng dẫn các hành động và quyết định”.

Ngoài ra, có thể hiểu dữ liệu là các dữ kiện không có ý nghĩa, thông tin là dữ liệu được giải thích (là dữ liệu có ý nghĩa) và tri thức là “thông tin được kết hợp / tổ chức trong kho dữ liệu của tổ chức”; “thông tin được xác thực”; “thông tin được cá nhân hoá trong tâm trí con người” (Alavi và Leidner, 2001). Bên cạnh đó, tri thức còn được phân biệt với các khái niệm tương đồng khác là trí tuệ bên cạnh hai khái niệm dữ liệu và thông tin.2 đưa ra một số định nghĩa về bốn thuật ngữ để cho thấy sự khác biệt giữa các thuật ngữ này. Định nghĩa dữ liệu, thông tin, tri thức và trí tuệ 2 Thuật ngữ Định nghĩa Ví dụ Ký tự trong cuốn sách. Dữ liệu là các ký hiệu đơn thuần.

Nó Bits 0, 1 trong bộ nhớ máy Dữ liệu không có ý nghĩa bởi vì nó tồn tại bên tính. ngoài tâm trí con người. Chỉ dẫn trên đường phố. Thông tin Thông tin là dữ liệu đã được xử lý.

Tri thức cấu thành niềm tin của một người Mặt trời nằm ở trung tâm Tri thức về những gì mà đã được xã hội đánh giá là của hệ mặt trời. Trí tuệ tạo thành nhận thức của một người Chúng ta nên giảm lượng Trí tuệ về những gì được xã hội đánh giá là đáng khí thải carbon. Nguồn: Baskarada và Koronios (2013) Nonaka và cộng sự (2006) lập luận rằng tri thức được tạo ra bởi con người, do đó tri thức mang tính chủ quan, liên quan đến quá trình, thẩm mỹ và tạo ra thông qua thực hành. Gilbert (2007) đã quan sát và thấy rằng tri thức được người học xây dựng để duy trì sự cân bằng với tri thức và kinh nghiệm trước đó.

Tri thức được xem là quyền lực và đặc quyền của một cá nhân cho nên cá nhân sẽ mong muốn giữ và từ đó 12 cản trở việc chia sẻ tri thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa giảng viên tại các trường đại học công lập khu vực Hà Nội" tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến việc chia sẻ tri thức trong môi trường giáo dục đại học. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố như văn hóa tổ chức, động lực cá nhân và các chính sách hỗ trợ mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc chia sẻ tri thức trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức cải thiện môi trường học thuật và khuyến khích sự hợp tác giữa các giảng viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị tri thức và sự hài lòng của sinh viên trong giáo dục, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận án tiến sĩ về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập TP.HCM trong điều kiện tự chủ, nơi nghiên cứu về quản lý tài chính trong giáo dục, hay Hệ thống kiểm soát và kết quả hoạt động của các trường đại học công lập tự chủ ở đồng bằng sông Hồng, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố quản lý trong giáo dục đại học. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ: Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tri thức tại trường đại học công lập Hà Nội sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị tri thức, một chủ đề liên quan mật thiết đến chia sẻ tri thức giữa giảng viên.