Luận án tiến sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong các trường đại học công lập khu vực hà nội

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong các trường đại học, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

206
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIA SẺ TRI THỨC

1.1. Tri thức, quản trị tri thức và chia sẻ tri thức

1.2. Các lý thuyết nền áp dụng trong chia sẻ tri thức

1.3. Tổng quan nghiên cứu về chia sẻ tri thức

1.4. Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức

1.5. Tổng quan các nghiên cứu về chia sẻ tri thức trong bối cảnh ở Việt Nam

1.6. Khoảng trống, các nội dung kế thừa và hướng nghiên cứu

1.7. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

1.7.1. Mô hình nghiên cứu

1.7.2. Giả thuyết nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Quy trình nghiên cứu. Phát triển thang đo và phiếu điều tra

2.2. Thang đo nhân tố các công cụ Công nghệ thông tin và Truyền thông

2.3. Thang đo nhân tố Sự ủng hộ của lãnh đạo

2.4. Thang đo nhân tố Khen thưởng

2.5. Thang đo nhân tố Văn hóa tổ chức

2.6. Thang đo nhân tố Thực hành tuyển dụng và tuyển chọn

2.7. Thang đo nhân tố Chia sẻ tri thức

2.8. Nghiên cứu sơ bộ

2.9. Nghiên cứu chính thức. Thiết kế phiếu điều tra

2.10. Xác định mẫu điều tra

2.11. Dự kiến phân tích dữ liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Hiện trạng và thống kê mô tả mẫu

3.2. Kiểm định thang đo

3.3. Kiểm định độ tin cậy của thang đo các nhân tố trong mô hình

3.4. Phân tích nhân tố khám phá

3.5. Phân tích nhân tố khẳng định

3.6. Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết

3.7. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính với mô hình nghiên cứu

3.8. Phân tích mô hình cấu trúc đa nhóm

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.2. Các giả thuyết chưa được khẳng định

4.3. Các giả thuyết được ủng hộ

4.4. Sự khác biệt giữa các biến kiểm soát đối với chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong các trường đại học

4.5. Những đóng góp mới của luận án

4.6. Đề xuất một số khuyến nghị

4.6.1. Các công cụ công nghệ thông tin và truyền thông

4.6.2. Thực hành tuyển dụng và tuyển chọn

4.6.3. Khen thưởng

4.6.4. Các khuyến nghị với các nhà quản lý giáo dục đại học

4.7. Một số hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng chia sẻ tri thức giảng viên đại học công lập Hà Nội

Phần này khảo sát thực trạng chia sẻ tri thức giảng viên tại các trường đại học công lập Hà Nội. Nghiên cứu tập trung vào thực tiễn chia sẻ tri thức giảng viên đại học và xác định những điểm mạnh, điểm yếu hiện có. Dữ liệu thu thập được thông qua khảo sát, phỏng vấn, và phân tích tài liệu. Kết quả cho thấy mức độ chia sẻ tri thức giảng viên hiện nay còn hạn chế. Nhiều giảng viên vẫn giữ kiến thức cho riêng mình. Văn hóa chia sẻ tri thức giảng viên chưa được hình thành rộng rãi. Một số nguyên nhân được chỉ ra, bao gồm thiếu cơ chế khuyến khích, thiếu cộng đồng chia sẻ tri thức, và rào cản chia sẻ tri thức giảng viên. Giải pháp thúc đẩy chia sẻ tri thức cần được đề xuất, dựa trên kết quả phân tích thực trạng.

1.1 Khảo sát hiện trạng chia sẻ tri thức

Phần này trình bày kết quả khảo sát thực trạng chia sẻ tri thức giữa giảng viên. Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm bảng câu hỏi, phỏng vấn chuyên sâu với các giảng viên đại diện cho nhiều trường đại học và chuyên ngành khác nhau. Kết quả được phân tích định lượng và định tính. Các chỉ số quan trọng như tần suất chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, mức độ sử dụng công nghệ hỗ trợ chia sẻ tri thức, và sự sẵn lòng hợp tác chia sẻ tri thức được tính toán và phân tích. Phân tích sâu vào các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức trong giáo dục đại học, bao gồm cả yếu tố cá nhân (như kinh nghiệm, năng lực, thái độ) và yếu tố tổ chức (như chính sách, văn hóa, cơ sở vật chất). Nghiên cứu chia sẻ tri thức giảng viên này nhấn mạnh vào sự cần thiết của việc tạo dựng một môi trường chia sẻ tri thức tích cực và hiệu quả. Các rào cản chia sẻ tri thức giảng viên được xác định rõ ràng, tạo nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp trong phần sau.

1.2 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức

Phần này tập trung vào phân tích yếu tố ảnh hưởng chia sẻ kiến thức. Dựa trên kết quả khảo sát, nghiên cứu xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giảng viên đại học công lập Hà Nội. Các yếu tố này được phân loại thành các nhóm: yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức và yếu tố công nghệ. Yếu tố cá nhân bao gồm động lực, thái độ, kỹ năng của giảng viên. Yếu tố tổ chức bao gồm chính sách, văn hóa, cơ cấu tổ chức của trường đại học. Yếu tố công nghệ bao gồm sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông. Phân tích yếu tố ảnh hưởng chia sẻ tri thức này sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. Kết quả phân tích cho thấy vai trò quan trọng của các yếu tố tổ chức và công nghệ trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức giữa giảng viên. Động lực chia sẻ tri thức của giảng viên cũng được xem xét kỹ lưỡng.

II. Yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức

Phần này tập trung vào yếu tố ảnh hưởng chia sẻ tri thức được xác định dựa trên nghiên cứu. Chính sách chia sẻ tri thức đóng vai trò quan trọng. Văn hóa chia sẻ tri thức giảng viên cũng là yếu tố then chốt. Công nghệ hỗ trợ chia sẻ tri thức tạo điều kiện thuận lợi. Sự ủng hộ của lãnh đạo cũng thúc đẩy chia sẻ tri thức. Hợp tác chia sẻ tri thức cần được khuyến khích. Đánh giá hiệu quả chia sẻ tri thức cần được thực hiện thường xuyên. Nâng cao chất lượng giảng dạy thông qua chia sẻ kinh nghiệm. Phát triển chuyên môn giảng viên cũng là yếu tố quan trọng.

2.1 Ảnh hưởng của chính sách và văn hóa

Phần này phân tích tác động của chính sách chia sẻ tri thứcvăn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức giảng viên. Nghiên cứu đánh giá mức độ hiệu quả của các chính sách hiện hành trong việc khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy. Ảnh hưởng của chính sách đến chia sẻ tri thức được phân tích dựa trên các chỉ số như số lượng chương trình đào tạo, cơ chế khen thưởng, và sự hỗ trợ của lãnh đạo. Tác động của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức được xem xét thông qua khảo sát thái độ, hành vi của giảng viên. Nghiên cứu kết luận rằng một văn hóa chia sẻ tri thức tích cực là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các chương trình chia sẻ tri thức giảng viên. Vai trò của lãnh đạo trong chia sẻ tri thức cũng được nhấn mạnh. Tác động của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức được làm rõ hơn bằng các ví dụ cụ thể.

2.2 Ảnh hưởng của công nghệ và hợp tác

Phần này tập trung vào vai trò của công nghệ hỗ trợ chia sẻ tri thứchợp tác chia sẻ tri thức. Nghiên cứu khảo sát việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chia sẻ tri thức. Tích hợp công nghệ trong chia sẻ tri thức được đánh giá dựa trên mức độ sử dụng các nền tảng trực tuyến, hệ thống quản lý tri thức, và các công cụ hỗ trợ khác. Nghiên cứu cũng phân tích tầm quan trọng của hợp tác chia sẻ tri thức giữa các giảng viên, các khoa, và các trường đại học. Mối quan hệ giữa hợp tác và chia sẻ tri thức được làm rõ thông qua các ví dụ thực tế. Xây dựng cộng đồng chia sẻ tri thức được đề xuất như một giải pháp quan trọng. Ứng dụng công nghệ thông tin trong chia sẻ tri thức cần được đẩy mạnh hơn nữa. Đào tạo chia sẻ tri thức cho giảng viên cũng là một giải pháp cần thiết.

III. Giải pháp và khuyến nghị

Phần này đề xuất các giải pháp thúc đẩy chia sẻ tri thức. Cải thiện môi trường chia sẻ tri thức là ưu tiên hàng đầu. Đào tạo chia sẻ tri thức cho giảng viên rất cần thiết. Xây dựng cơ chế khuyến khích chia sẻ tri thức cần được xem xét. Ứng dụng công nghệ thông tin trong chia sẻ tri thức cần được đẩy mạnh. So sánh chia sẻ tri thức giữa các trường đại học giúp học hỏi kinh nghiệm. Đánh giá năng lực chia sẻ tri thức giảng viên cần được thực hiện định kỳ. Phát triển mô hình chia sẻ tri thức giảng viên phù hợp với điều kiện Việt Nam.

3.1 Đề xuất chính sách và cơ chế

Phần này đề xuất các chính sách chia sẻ tri thức cụ thể. Cơ chế khen thưởng rõ ràng cần được thiết lập. Chính sách hỗ trợ về tài chính và thời gian cần được ban hành. Cải thiện môi trường chia sẻ tri thức thông qua việc xây dựng cộng đồng học tập. Cơ chế khuyến khích chia sẻ tri thức cần thiết kế sao cho công bằng và minh bạch. Việc đánh giá hiệu quả chia sẻ tri thức cần được thực hiện một cách khách quan và hiệu quả. Chính sách chia sẻ tri thức cần được truyền thông rộng rãi đến tất cả giảng viên. Xây dựng cơ sở dữ liệu chia sẻ tri thức cũng là một hướng đi cần được nghiên cứu và triển khai.

3.2 Ứng dụng công nghệ và đào tạo

Phần này tập trung vào việc ứng dụng công nghệ trong chia sẻ tri thức. Đầu tư vào hệ thống quản lý tri thức hiện đại là cần thiết. Đào tạo giảng viên về kỹ năng chia sẻ tri thức và sử dụng công nghệ là rất quan trọng. Chương trình đào tạo cần bao gồm các nội dung về phương pháp chia sẻ tri thức hiệu quả, sử dụng các công cụ công nghệ thông tin, và xây dựng cộng đồng học tập trực tuyến. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong chia sẻ tri thức nên được tích hợp vào chương trình đào tạo của giảng viên. Đánh giá năng lực chia sẻ tri thức giảng viên cần được tiến hành định kỳ để đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo. Thực tiễn chia sẻ tri thức giảng viên đại học cần được nghiên cứu sâu hơn để tìm ra các mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIA SẺ TRI THỨC 1. Tri thức, quản trị tri thức và chia sẻ tri thức 1. Tri thức a) Khái niệm tri thức Nghiên cứu của Grant (1996) chỉ ra rằng tri thức là một trong những yếu tố làm nên thành công của tổ chức và quản trị tri thức trở thành một chiến lược cạnh tranh hiệu quả và quan trọng nhất. Còn theo Stiglitz (từng là nhà kinh tế đứng đầu của World Bank) tri thức đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội.

Khả năng sử dụng tri thức của một tổ chức có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào con người của tổ chức đó (Ipe, 2003). Do đó, tri thức của các cá nhân được coi là một tài sản cần được quản lý hiệu quả để đạt được kết quả hoạt động tốt hơn (Bartol và Srivastava, 2002) và cuối cùng là đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững (Cabrera, 2005; Nonaka và Takeuchi, 1995). Tuy nhiên, rất nhiều tổ chức vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tri thức để phát triển tổ chức. Câu hỏi về bản chất của tri thức là một thách thức lớn đối với các nhà khoa học.

Mặc dù các nhà triết gia đã thảo luận vấn đề này trong nhiều năm, nhưng đến nay việc tìm kiếm một định nghĩa chính thức vẫn còn đang tiếp tục. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau thì tri thức được định nghĩa một cách khác nhau. Ví dụ, Nonaka và Takeuchi (1995) định nghĩa rằng “tri thức là một quá trình năng động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân đối với sự thật”. Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành một cấu trúc thứ bậc của việc tạo ra tri thức.

Tri thức là một tập hợp các mô hình kết nối có cấu trúc (Meyer và Sugiyama, 2007). Davenport và Prusak (1998) định nghĩa tri thức là một cách tiếp cận hoàn chỉnh tạo ra các thông lệ và thông tin mới. Tri thức có thể được xem như một trạng thái, đối tượng, quá trình, điều kiện hoặc khả năng (Alavi và Leidner, 2001). Tri thức cũng được định nghĩa là (i) sự kiện, thông tin và kỹ năng được mua lại bởi một người thông qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, sự hiểu biết lý thuyết hoặc thực hành một vấn đề, (ii) những gì được biết đến trong một lĩnh vực cụ thể hoặc toàn bộ; sự kiện và thông tin; hoặc (iii) nâng cao nhận thức hay hiểu biết đã đạt được bằng kinh nghiệm của một sự kiện hoặc tình huống (Tiwana, 2002).

Tri thức có thể được định nghĩa là “thông tin kết hợp với kinh nghiệm, bối cảnh, diễn giải và phản ánh” luan an 8 (Mohanty, 2003). Drucker (1993) cho rằng tri thức được con người tạo ra và đối thủ cạnh tranh không thể hiểu cách thức một doanh nghiệp tạo ra tri thức nếu không hiểu vai trò và chức năng của yếu tố chủ quan con người trong quá trình đó. Ông từng nhận định rằng “Tài sản giá trị nhất của một công ty trong thế kỷ XX là hàng hóa và thiết bị, còn tài sản giá trị nhất của một công ty trong thế kỷ XXI sẽ là tri thức và năng suất lao động. Do đó, các công ty sẽ cạnh tranh với nhau trong một nền kinh tế tri thức”.

Khối tài sản tri thức mà Drucker nhắc đến chính là tài sản vô hình (Intangible Asset). Vì thế, để thành công, tổ chức cần phải quản trị dựa vào tri thức. Nhằm giúp các nhà quản lý hiểu cách thức phát triển vốn trí tuệ và chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp, các nhà khoa học của Nhật Bản (đứng đầu là Ikujiro Nonaka) đã đề xuất mô hình “Quản trị dựa vào tri thức” trong những năm 1990, hay còn gọi là mô hình “Quản trị dựa trên tri thức theo phong cách Hitotsubashi”. Do đó, để hiểu rõ bản chất quản trị dựa vào tri thức, cần tìm hiểu cả ở khía cạnh lý thuyết và thực tiễn tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Nhật Bản đã thành công.

Theo đó, Nonaka cho rằng “Tri thức được tạo ra trong vòng quay liên tục thông qua đối thoại và thực hành. Đối thoại cho phép mọi người hiểu rằng có những quan điểm khác với quan điểm của mình, giúp mọi người chấp nhận và tổng hợp những quan điểm đó, còn thực hành cho phép chia sẻ tri thức ẩn thông qua chia sẻ trải nghiệm hay diễn tả tri thức này bằng một hành động hoặc bối cảnh cụ thể. Để đảm bảo công ty sáng tạo tri thức thông qua tương tác đạt hiệu quả, người lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng. Họ có thể là người đưa ra tầm nhìn tri thức hoặc mục tiêu định hướng, phát triển và cổ vũ chia sẻ tri thức, khuyến khích tương tác thông qua đối thoại và thực hành, hay hỗ trợ, kết nối các Ba (bối cảnh), hay đưa ra các phần thưởng cho những tri thức mới hữu ích cho tổ chức”.

De Long và Fahey (2000) cho rằng tri thức như một sản phẩm phản ánh suy nghĩ và kinh nghiệm của con người. Alavi và Leidner (2001) đề cập đến tri thức như là dòng chảy của các kích thích mới bắt nguồn từ quá trình nhận thức của con người. Van der Spek và Spijkervet (1997) xem xét tri thức như là một tập hợp toàn bộ những hiểu biết, kinh nghiệm và thủ tục được coi là chính xác và đúng đắn và do đó định hướng các suy nghĩ, hành vi và sự giao tiếp của con người, đồng thời tri thức đó luôn có thể áp dụng trong nhiều tình huống và trong một thời gian tương đối dài. Davenport và Prusak (1998) cho rằng, thông tin được biến đổi thành tri thức của con người thông qua (a) cách so sánh thông tin giữa một tình huống với các tình huống khác đã biết, (b) các quyết định và hành động nào dẫn đến thông tin, (c) thông tin này liên luan an 9 quan đến thông tin khác như thế nào và (d) những gì người khác nghĩ về thông tin này.

luan an 10 Bảng 1. Định nghĩa dữ liệu, thông tin, tri thức và trí tuệ 1 Trí tuệ là tri thức được tích lũy, cho phép người đọc hiểu cách áp dụng các khái niệm vào các tình huống hoặc các vấn đề mới (Jessup và Valacich, 2003). Trí tuệ là mức độ trừu tượng cao nhất, với tầm nhìn rộng (Awad và Ghaziri, Trí tuệ 2004). Trí tuệ là khả năng phê bình hoặc thực tiễn trong bất kỳ tình huống nào.

Nó dựa trên phán đoán đạo đức liên quan đến hệ thống tín ngưỡng của một cá nhân (Jashapara, 2005). Tri thức là sự kết hợp của dữ liệu và thông tin, được bổ sung ý kiến, kỹ năng và kinh nghiệm tạo thành một tài sản có giá trị có thể dùng để hỗ trợ ra quyết định (Chaffey và Wood, 2005). Tri thức là dữ liệu hoặc thông tin được tổ chức và xử lý để truyền đạt sự Tri thức hiểu biết, kinh nghiệm, kiến thức tích lũy và chuyên môn nhằm giải quyết một vấn đề hiện tại (Turban và cộng sự, 2005). Tri thức dựa trên thông tin được trích ra từ dữ liệu.

Tri thức là tài sản của những người sở hữu nó, thúc đẩy họ hành động theo cách cụ thể (Boddy và cộng sự, 2005). Thông tin là dữ liệu làm tăng giá trị cho sự hiểu biết về một chủ đề (Chaffey và Wood, 2005). Thông tin là dữ liệu đã được định hình có ý nghĩa và hữu ích cho con người Thông tin (Laudon và Laudon, 2016). Thông tin là tập hợp các dữ liệu giúp đưa ra quyết định dễ dàng hơn (Awad và Ghaziri, 2004).

Dữ liệu không có ý nghĩa và giá trị bởi nó không có bối cảnh và được diễn giải cụ thể (Jessup và Valacich, 2003; Bocij và cộng sự, 2003, Groff và Jones, 2003). Dữ liệu là các sự kiện hoặc quan sát rời rạc, khách quan, chưa được tổ chức Dữ liệu và xử lý, và không truyền đạt ý nghĩa cụ thể nào (Awad và Ghaziri, 2004; Chaffey và Wood, 2005; Pearlson và Saunders, 2004; Bocij và cộng sự, 2003). Dữ liệu là các mô tả cơ bản và được ghi lại về sự vật, sự kiện, hoạt động và các giao dịch (Laudon và Laudon, 2016; Boddy và cộng sự, 2005). Nguồn: Rowley (2007) Từ những định nghĩa về tri thức, có thể thấy rằng dữ liệu và thông tin có liên quan đến tri thức nhưng không giống với tri thức.

Beckman (1999) tóm tắt mối quan luan an 11 hệ giữa dữ liệu, thông tin và tri thức như sau: “Dữ liệu = sự kiện, hình ảnh, hoặc âm thanh; Dữ liệu + diễn giải + ý nghĩa = thông tin = định dạng, lọc và tóm tắt dữ liệu; Thông tin + hành động + ứng dụng = tri thức = bản năng, ý tưởng, quy tắc và thủ tục hướng dẫn các hành động và quyết định”. Ngoài ra, có thể hiểu dữ liệu là các dữ kiện không có ý nghĩa, thông tin là dữ liệu được giải thích (là dữ liệu có ý nghĩa) và tri thức là “thông tin được kết hợp / tổ chức trong kho dữ liệu của tổ chức”; “thông tin được xác thực”; “thông tin được cá nhân hoá trong tâm trí con người” (Alavi và Leidner, 2001). Bên cạnh đó, tri thức còn được phân biệt với các khái niệm tương đồng khác là trí tuệ bên cạnh hai khái niệm dữ liệu và thông tin.2 đưa ra một số định nghĩa về bốn thuật ngữ để cho thấy sự khác biệt giữa các thuật ngữ này. Định nghĩa dữ liệu, thông tin, tri thức và trí tuệ 2 Thuật ngữ Định nghĩa Ví dụ Ký tự trong cuốn sách.

Dữ liệu là các ký hiệu đơn thuần. Nó Bits 0, 1 trong bộ nhớ máy Dữ liệu không có ý nghĩa bởi vì nó tồn tại bên tính. ngoài tâm trí con người. Chỉ dẫn trên đường phố.

Thông tin Thông tin là dữ liệu đã được xử lý. Tri thức cấu thành niềm tin của một người Mặt trời nằm ở trung tâm Tri thức về những gì mà đã được xã hội đánh giá là của hệ mặt trời. Trí tuệ tạo thành nhận thức của một người Chúng ta nên giảm lượng Trí tuệ về những gì được xã hội đánh giá là đáng khí thải carbon. Nguồn: Baskarada và Koronios (2013) Nonaka và cộng sự (2006) lập luận rằng tri thức được tạo ra bởi con người, do đó tri thức mang tính chủ quan, liên quan đến quá trình, thẩm mỹ và tạo ra thông qua thực hành.

Gilbert (2007) đã quan sát và thấy rằng tri thức được người học xây dựng để duy trì sự cân bằng với tri thức và kinh nghiệm trước đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong các trường đại học công lập khu vực Hà Nội" của tác giả Đỗ Văn Sang, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Năm và TS. Đoàn Quang Minh, tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến việc chia sẻ tri thức trong môi trường giáo dục đại học. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về quy trình chia sẻ tri thức giữa các giảng viên mà còn cung cấp những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện hiệu quả giảng dạy và học tập trong các trường đại học công lập tại Hà Nội.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý và cải tiến trong lĩnh vực giáo dục, bạn có thể tham khảo bài viết "Quản Lý Hoạt Động Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học Cho Giáo Viên Tại Trường Trung Học Phổ Thông Tam Đảo", nơi nghiên cứu về việc nâng cao năng lực giảng dạy cho giáo viên. Ngoài ra, bài viết "Phát triển tư duy và kỹ năng lập luận toán học cho học sinh trung học cơ sở" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển năng lực tư duy trong giáo dục. Cuối cùng, bài viết "Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách và quản lý trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai quan tâm đến việc cải thiện và phát triển trong lĩnh vực giáo dục.